Các tộc người

CÀ VĂN KHUM, NGƯỜI ANH HÙNG LÀM NHIỆM VỤ QUỐC TẾ

09-10-2016 - 20:57 - 294 lượt xem

Bùi Thế Tung sưu tầm

 

 

Ông là người dân tộc Thái, sinh năm 1942, quê ở bản Gióng, xã Chiềng Cơi, thị xã Sơn La (nay là thành phố Sơn La), tỉnh Sơn La.

Nhập ngũ tháng 2 năm 1964, ông hiểu rõ nhiệm vụ quốc tế cao cả của Đảng đối với cách mạng nước bạn, không sợ khó khăn, gian khổ, sẵn sàng hy sinh tính mạng để hoàn thành nhiệm vụ cấp trên giao cho.

Tháng 4 năm 1964, ông làm nhiệm vụ trinh sát, nắm tình hình địch ở các vị trí Mường Ngàn, Tha Viêng, Tha Thơm. Mặc dù địch canh phòng nghiêm mật, ông vẫn mưu trí, tìm cách đột nhập các vị trí nhiều lần, nắm tình hình địch đầy đủ, báo cáo lên cấp trên hạ quyết tâm chính xác khi mở chiến dịch.

Ngày 5 tháng 01 năm 1966, đơn vị đánh đồn Tông Sơ. Vừa có lệnh nổ súng, ông nhanh chóng tiếp cận, ngay phút đầu cùng tổ mũi nhọn diệt 3 tên địch. Sau đó đánh sâu vào trong đồn, góp phần với đơn vị kết thúc thắng lợi trận đánh.

Ngày 02 tháng 02 năm 1967, đơn vị đánh sân bay Luông Pra - băng lần thứ nhất. Trong thời gian chuẩn bị trận đánh, ông 4 lần cải trang giả địch vào tận trong sân bay điều tra quân số, hỏa lực của địch. Do nắm chắc tình hình địch, nên khi nổ súng đánh sân bay, ông dẫn đầu và chỉ huy tổ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, tiêu diệt gọn các mục tiêu trên giao, diệt 30 tên địch, tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị phá hủy 9 máy bay T28, 2 máy bay lên thẳng, 150 tấn bom, một nhà máy điện và diệt 65 tên địch khác.

Tháng 3 năm 1967, trong trận chống càn ở Pác Ngà, ông chỉ huy tổ diệt 10 tên, làm bọn địch hoảng hốt chạy tán loạn.

Ngày 06 tháng 7 năm 1967, trong trận đánh sân bay Luông Pra – băng lần thư hai, mặc dù thấy địc đi tuần tra cách 15 mét, nhưng chưa có lệnh nổ súng, ông mưu trí, tìm cách che mắt địch để giữ bí mật. Khi có lệnh, ông xung phong ngay, nhanh chóng dùng bộc phá phá hủy 3 máy bay địch, góp phần cùng đơn vị phá hủy 17 chiếc khác, 2 xe ô tô vận tải, 2 xe húc, 1 nhà máy điện, 100 tấn bom, đánh sập 1 chiếc cầu, diệt hơn 40 tên địch.

Tháng 2 năm 1969, ông đi trinh sát vị trí Long Chẹng (Xiêng Khoảng). Địch canh gác nghiêm ngặt, tổ trinh sát của ông vẫn khắc phục khó khăn, điều tra nghiên cứu hàng tháng liền. Nhiều khi liên tục 5, 6 ngày đêm mất ngủ, ăn đói, nhưng anh em trong tổ vẫn động viên nhau kiên trì bám địch, nhờ đó đã nắm tình hình địch chính xác, chặt chẽ, kịp thời báo cáo cấp trên.

Ngày 24 tháng 5 năm 1969, trong trận đánh vị trí Đồi Tháp, mặc dù bị thương nặng, ông vẫn tiếp tục chỉ huy đơn vị chiến đấu và anh dũng hy sinh trên trận địa. Khi hy sinh, ông là trung úy, phân đội phó đặc công thuộc đoàn 31, bộ đội tình nguyện chiến đấu ở Lào, đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam.

Ông đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng nhất, 1 Huân chương Chiến công hạng nhì, 1 Huân chương Chiến công hạng ba.

Ngày 22 tháng 12 năm 1969, ông được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

 

 

Gửi bình luận của bạn
x