Các tộc người

Dân tộc La Hủ

29-09-2016 - 22:47 - 839 lượt xem

Pa Vệ Sủ

 

La Hủ là tên đồng bào tự gọi, có nghĩa là con hổ. Các nhóm địa phương gồm có: La Hủ Na (La Hủ Đen), La Hủ Sư(La Hủ Vàng), La Hủ Phụng (La Hủ Trắng).

Tiếng nói của người La Hủ thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng – Miến

Dân tộc La Hủ chỉ có khoảng 11.140 ngườ cư trú tập trung ở huyện Mường Tè (Lai Châu)

người La Hủ sinh sống chủ yếu bằng canh tác nương rẫy theo cách: gieo 2 vụ, bỏ 3 vụ rồi quay trở lại canh tác. Công cụ canh tác chủ yếu là con dao, cái cuốc nhỏ bằng tay, đặc biệt là cái cù ngoèo (cành cây quay ngược đầu có chạc vót nhọn hơ lửa cho cứng) mở đất thay gậy chọc lỗ tra hạt. Cây trồng chủ yếu là ngô, thường xen rau cải, bầu bí, đỗ…

Với tập quán du cư còn nặng nề, đời sống của đồng bào vẫn còn phụ thuộc vào canh tác nưỡng rẫy và khai thác tự nhiên chủ yếu là săn bắt hái lượm. Tập quán này đã hình thành nét văn hóa sản xuất rất riêng của người La Hủ,

Trước tiên là chọn đấtnương rẫy, việc này do người chủ gia đình đảm nhiệm và được tiến hành vào trước mùa thu hoặc lúa nương, tháng 8 âm lịch. Đất nương rẫy được chọn phải có độ ẩm cao, màu đen sẫm, nhiều mùn. Chọn được chỗ vừa ý, chủ nhà sẽ phát dọn khoảng vài mét, rồi cầu khấn sự cho phép của ma rừng ma núi.Đêm đó về nhà, nếu gia chủ không gặp mộng mị trong giấc ngủ thì coi như đã gặp điềm lành, đã chọn được đất.Hôm sau, gia chủ đem phên nứa hình mắt cá kẹp vào đoạn tre cắm cọc để đánh dấu sở hữu nơi đất đã chọn. Mảnh đất ấy trở thành có chủ và không thể xảy ra tranh chấp.

người La Hủ ưu tiên chọn đất lúa trước rồi mới đi tìm đất trồng ngô, đậu, sắn sau. Khi phát nương, cả nhà phải tham gia, thường thì họ làm lều nương và ngủ tại đó trong suốt thời kỳ phát dọn. Sau đó nơi ấy lại làm nơi canh coi chờ mùa thu hoạch. Khi phát nương, người La Hủ không đốn hạ các cây lớn mà họ để lại che nắng, giữ ẩm và để cho rừng tái sinh nhanh khi hết chu kì làm nương.

người La Hủ có thói quen dõi theo thời tiết để đoán định thuận lợi mùa màng bội thu. Một kinh nghiệm dự báo khác là xem việc ra hoa kết trái của dâu da, muỗm, gạo để đoán địnhmùa màng. Nếu năm đó gạ, muỗm, dâu da ra nhiều hóa, đậu nhiều quả là mùa nương bội thu.

Khi thu hoạch lúa, ngô người La Hủ có thói quen phơi khô tại chỗ sau đó đánh đống ngay trên rừng. Các đống được đánh thành hình tròn cao vài ba mét. Trên đỉnh đống lợp phủ bằng cỏ gianh để che mưa tránh nắng. Phần  lúa, ngô, đậu thu hoạch sơm được mang về làm lễ mừng cơm mới, còn lại bao giờ cần dùng đến mới ra nương mang về. Vậy nhưng tuyệt nhiên không bao giờ mất cắp.

Văn hóa sản xuất nương rẫy của người La Hủ cũng gắn liền với những tín ngưỡng về nghi lễ nông nghiệp của cư dân miền núi cao. Trong suốt chu kỳ canh tác trong năm, nghi thức cầu mùa chủ yếu vào dịp Tết, khi thờ cúng tổ tiên ông bà, cúng lúa mới trước khi thu hoạch 1 tháng, cúng thần gió khi lúa bắt đầu trổ bông, sau mùa vụ là tết cơm mới.

người La Hủ giỏi săn bắt đánh cá, đánh cá. Vũ khí săn bắn có súng hỏa mai, nỏ và các loại bẫy (bẫy bật dây bắt thòng lọng cổ con thú, bẫy chuông, bấy hố, bẫy sập đá, bẫy kẹp). Có 2 cách săn: săn rình (cá nhân) và săn đuổi (tập thể). Săn rình phổ biến hơn, phần nhiều dùng nỏ không tẩm tên thuốc độc. Đánh cá ven sông có nhiều hình thức:ruốc lá đắng, làm đăng, đặt đó, lặn xuống dưới nước bắt cá bằng tay. Ngoài ra, người La Hủ còn bắt ếch ở các ao, vũng trong khe núi.

Kinh tế hái lượm chiếm vị trí đáng kể trong đời sống của người La Hủ, gồm:hái lượm lương thực (các loại cây có bột như cây báng, cây móc, củ mài trắng, vàng, củ ấu, hạt giẻ, các loại quả rừng…) và hái lượm thực phẩm (rau rừng,măng, các loại nấm, mộc nhĩ,..)

người La Hủ giỏi nghề thủ công đan lát và rèn. Mâm ăn cơm, ghế mây, chiếu mây, nong… là những đồ đan nổi tiếng, chẳng những đủ dùng trong gia đình mà còn trao đổi với xunh quanh đẻ đổi lấy vải, muối, nông cụ.

người La Hủ cũng chăn nuôi nhiều gia cầm, đặc biệt là đại gia súc (trâu, bò, ngựa) khá phát triển

Không còn dấu vết gia đình lớn ở người La Hủ mà phổ biến là gia đình nhỏ phụ quyền, phụ nữ được tham gia vào bàn bạc giải quyết công việc trong gia đình. người La Hủ chia làm nhiều dòng họ , mỗi dòng họ còn chia làm nhiều ngành còn mang ý nghĩa tô tem giáo, như họ Vàng có ngành Pà Thô Ngá (chim gõ kiến), họ Ly có ngành La Ló (con hổ), ngành Phụ La Thó (con sóc nâu). người La Hủ không có người đứng đầu dòng họ, không có nghi thức cúng bái chung theo dòng họ. Do cuộc sống du canh du cư lâu đời nên ít có cố kết dòng họ.

người La Hủ đã chuyển từ ăn ngô, cơm nếp sang chủ yếu ăn cơm tẻ. họ thích dùng các loại thịt chim thú săn bắt được hay các loại cá, tép, ếch, cua bắt được ở khe suối, canh măng chua, canh đậu, bầu bí…

người La Hủ không có truyền thống trồng bông. Trước đây phụ nữ thường đem thịt thú rừng, nấm hương và các loại lâm thổ sản, đồ đan đổi lấy vải của các dan tộc khác về cắt may quần áo. Cả đàn ông và đàn bà đều mặc quần dài, áo dài năm thân dài đến tận cổ chân. Quần áo đều màu chàm hoặc màu đen. Áo dài của phụ nữ may ống tay hẹp, can bằng nhiều khoanh vải màu xanh, trắng,đỏ đen.

Phụ nữ La Hủ có thói quen mặc 2 áo: áo trong dài, áo ngoài ngắn không có ống tay. Trên cổ và quanh thân áo ngoài thường đính nhiều đồng xu bằng nhôm, bằng bạc cùng những dây chỉ màu đỏ, vàng. Phụ nữ và trẻ em thường đội mũ phẳng đầu, xunh quanh thành mũ chạy nhiều đường chỉ màu và có tua chỉ màu đỏ vàng rủ xuống 2 bên.

người La Hủ trước đây thường ở trong những nhà lều tạm bợ xung quanh nương rẫy du canh. Nhà lợp mái xanh, đến khi lá vàng lại chuyển đi ở nhà khác nên người La Hủ còn có tên là Xá Lá Vàng. Ngày nay thì người La Hủ đã ở trong những ngôi nhà lắp ghép có lỗ đục bốn mái lá, xunh quanh có tường trình hoặc phên nứa. Cửa ra vào không thống nhất, có nhà mở cửa ở một đầu hồi, có nhà mở cửa cả hai bên đầu hồi, có nhà mở một cửa ở phía trước nhà. Bố trí trong nhà như sau:phần giữa là nơi ngủ cả vợ chồng gia chủ, đặt bếp nấu ăn, trên vách phía sau đặt bàn thờ tổ tiên, một đầu nhà là nơi con cái và khách nghỉ,đầu nhà kia là nơi đặt cối giã gạo và cácđồ lặt vặt. Làng bản của người La Hủ thường ở trên sườn núi đất cao, mỗi bản quây quần vài chục nóc nhà.

người La Hủ theo chế độ hôn nhân tự do. Họ cấm hôn nhân trong cùng dòng họ, ngành họ nhưng khác ngành có thể được lấy nhau; cho phép hôn nhân con cô con cậu, còn dì con già. Điều này thể hiện sự rơi rớt lại của hiện tượng quần hôn vì nội ngoại cũng chỉ là đời thứ hai. người La Hủ cũng không ngăn cấm hôn nhân ngoài dân tộc.

Phụ nữ La Hủ sinh con ngay trong buồng ngủ của mình với sự giúp đỡ của mẹ chồng và chị em gái. Rau đẻ được chôn ngay giữa nhà. Sau khi sinh con được 3 ngày phải làm lễ đặt tên cho đứa trẻ. Tên trẻ sơ sinh thường đặt theo ngày sinh.

Về tang ma, khi trong nhà có người mới tắt thở, người ta bắn 2 phát súng báo chohoj hàng, làng xóm biết. Thi hài được đặt trên chiếu giữa nhà, rửa sạch sẽ, đặt chiếc gậy bên cạnh người chết để người chết “sống” ở thế giới bên kia.

Khi đưa tang ra tới rừng mới đào huyệt theo cách ném trừng, trứng rơi chỗ nào thì đào huyệt chỗ đó.

Đồng bào cho rằng con người có 12 hồn. Hồn chính ngự ở bếp trong nhà (người La Hủ đặt bếp ở gian giữa nhà cùng với chỗ nằm của vợ chồng gia chủ và bàn thờ tổ tiên). Đồng bào quan niệm lúc bình thường chỉ có một hồn ở trong người, còn các hồn khác đi lang thang hoặc nhập vào các con vật như cáo, khỉ. Cáo, khỏ bị các con vật khác ăn thịt nên sinh ốm đau phải nhờ thày cúng (ang giơ) làm lễ gọi hồn về khỏi ốm. người La Hủ còn quan niệm các con vật còn có hồn. Lợn chậm lớn hoặc ốm đau cũng phải có hồn. Những quan niệm về hôn nhân như thế phản ánh sự rơi rớt lại 1 cách rất mơ hồ về thời rất xa xưa khi con người và các động vật khác còn chung sống hoang sơ.

người La Hủ thờ cúng tổ tiên theo 2 cách: bố mẹ chết thì anh cả lập bàn thờ cúng; anh cả chết chuyền lại cho anh hai, anh ba, con anh cả lập bàn thờ. Vì người La Hủ sống du canh du cư lâu đời, sống phân tán nên cố kết dòng họ. Dòng họ chia nhỏ theo ngành nên cúng tổ tiên cũng chóng phân tán theo ngành họ. Đồng thời họ còn cúng tổ tiên phân tán theo nhóm.

Nhóm La Hủ Phụng cúng tổ tiên không vào ngày bố mẹ mất mà vào các dịp lễ tết quanh năm, không dùng thịt rượu làm lễ vật mà chỉ cúng duy nhất cơm gói trong lá rừng. người La Hủ Sư và La Hủ Na cúng tổ tiên sau khi gieo nương xong, thường vào tết tháng 6, tết cơm mới tháng 11. Lễ vật cúng nhất thiết phải có 2 chén rượu, bát cơm, bát thịt và củ gừng. Củ gừng là lễ vật để tổ tiên nhận ra con cháu (phải chăng ở miền núi lạnh nhiều, gừng có tác dụng chống rét tốt, đồng thời gừng sinh sôi đẻ nhánh như con cháu ngành họ nên gừng không thể thiếu trong lễ vật cúng tổ tiên)

Hàng năm, người La Hủ có tục vào ngày Hổ tháng 4, sau khi đã gieo xong ngô sớm, mỗi bản thường tổ chức cúng thần bản (thủ ti) gọi là cúng ga mà ga mùa cầu thần thổ địa phù hộ sức khỏe cho con người, vật nuôi, mùa vụ nương rẫy tốt tươi.

Vì đồng bào quan niệm bái vật giáo – mọi vật đều có hồn nên cho rằng ngô, lúa cũng có hồn, khi thu hoạch phải cúng những hồn này. Lúa gặt xong đánh đống, trên đỉnh mỗi đống phủ một ít cỏ gianh để giữ hồn lúa. Gặt xong, cúng hồn lúa với lễ vật gồm: nắm cơm quả trứng, khi cúng bỏ cỏ gianh ra , cúng xong lấy một ít cơm, ít trứng bôi vào vài gié lúa để trên đỉnh đống lúa, coi như hồn lúa tập trung vào đó. Khi đập lúa ở đống này thì mang hồn lúa sang đống khác. Đập xong hết các đống lúa thì mang mấy gié lúa (hồn lúa) về đặt trên bồ thóc trong nhà.

Hàng năm, vào ngày Ngựa trong tháng 10, các gia đình làm nghề rèn đều cúng tổ sư của mình. Lễ cúng được thực hiện ngay bên lò rèn với tất cả các đồ dùng như búa, đe, kìm…

người La Hủ truyền miệng tính ngày, tính tháng theo lịch 12 con giáp,mỗi tháng tương ứng với 1 con vật. Đồng bào ăn tết hàng năm vào tháng 6 sau khi thu hoạch ngô sớm và vào tháng 11, sau khi thu hoạch ngô muộn và lúa. Các làng bản ăn tết không trùng ngày. Làng bản nào thu hoạch trước thì ăn tết trước, xong sau thì ăn tết sau. Tết thường kéo dài 3-5 ngày. Trong những ngày tết, mỗi bản thường tổ chức vui chơi, đánh trống làm nhịp cho các điệu xòe múa. Các chàng trai thi nhau thổi kèn bầu trúc với 5 ống dài ngắn khác nhau, tạo nên những âm thanh vui tai.

Từ cuộc sống đói nghèo lam lũ, trải qua nhiều năm theo Đảng, theo Cách mạng, cuộc sống của đồng bào đã hoàn toàn đổi mới theo xu hướng tiến bộ xã hội. Cuộc vận động định canh định cư cơ bản hoàn thành. Sản xuất ruộng nước, thâm canh trên đất dốc đã làm thay đổi tập quán canh tác lạc hậu trước đây. Cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa cơ sở gắn với bảo tồn phát huy văn hóa truyền thống đang được thực hiện có kết quả. Kết quả đó tạo dựng được niềm tin của bà con La Hủ vào sự nghiệp đổi mới do Đảng lãnh đạo.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Gửi bình luận của bạn
x