Các tộc người

Dân Tộc Lô Lô

05-10-2016 - 22:26 - 500 lượt xem

Pa Vệ Sủ

 

Dân tộc Lô Lô có tên tự gọi là Lô Lô, đây cũng là tộc danh chính thức dùng trong các văn bản Nhà nước. Người Lô Lô có 2 nhóm đại phương, do trang phục mà gọi để phân biệt là Lô Lô hoa, Lô Lô đen còn chính Người Lô Lô gọi theo tiếng dân tộc mình có khác nhau chút ít là do từ ngữ âm vùng địa phương cư trú, nên tên tự gọi thường thấy là: Mùn Dì, Màn Dì, Màn Chỉ (có nghĩa là người Di, có nguồn gốc từ Trung Hoa). Còn có tên gọi do dân tộc khác gọi: La La, Qua La, Lu Lộc Màn, Ô Man.

Nguồn gốc Người Lô Lô từ phương Bắc xuống (do những điều kiện xã hội), nhưng họ có mặt từ rất sớm ở vùng biên giới VIệt Trung, cực Bắc của Việt Nam, trên các vùng núi. Họ sống tụ cư thành bản địa và định cư suốt dọc các tỉnh cực Bắc: Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai, Tuyên Quang, Lai Châu. Trong gần 100 năm lại đây, Người Lô Lô cũng đã sống quần cư cùng các dân tộc anh em trên núi cao thành thôn bản với người Mông, Dao, Giáy, Tày…

Người Lô Lô thuộc ngữ hệ Hán – Tạng,nhóm ngôn ngữ Tạng – Miến. Trong các dân tộc ngữ hệ Hán – Tạng ở nước ta, người ta còn tìm thấy vết tích của chữ tượng hình Lô Lô có vào khoảng thế kỉ XIV, chữ viết trên da thú, gỗ mỏng…Hiện có một số gia đình còn giữ gìn vết tích chữ cổ, nhưng không một ai đọc hiểu được. Nó đã biến mất từ lâu trong đời sống dân tộc Lô Lô.Tuy ở sát biên giới Trung Hoa, không như một vào dân tộc khác, đa số Người Lô Lô không dùng chữ hán. Dân tộc Lô Lô có khoảng 4.314 người.

Sản xuất kinh tế

Canh tác nông nghiệp là hoạt động sản xuất chính của Người Lô Lô. Họ là cư dân có truyền thống làm ruộng, do điều kiện nơi ở nên họ chủ yếu canh tác trên ruộng bậc thang có hệ thống tưới tiêu. Người Lô Lô làm nường cày ở nơi đất bằng, nương cuốc ở nơi có độ dốc cao. Người Lô Lô xem ngô là lương thực chính nên việc phát triển cây ngô chiếm vị trí quan trọng.Họ rất coskinh nghiệm trong thổ canh hốc đá. Nương thổ canh hốc đá để trồng ngô. Trên triền núi đá, họ phá vỡ từng cụm đá tạo thành các hốc to nhỏ. Nếu có đất sẵn thì gieo trồng, không có thì mang đất đổ vào. Mỗi hốc chừng dăm hạt ngô. Họ đã biết dùng phân chuồng nên các hốc đá khô cằn nhỏ chừng 2,3 mét đến nửa mét đã thành vạt ngô, xanh tốt. Người Lô Lô biết tận dụng nương rẫy để thâm canh ruộng lúa,hốc ngô. Ngoài ra họ còn trồng xen canh các loại rau, đậu, củ, các loại khoai: sọ, lang, môn, củ từ. Họ cũng trồng bồng và có nghề dệt vải. Trước kia, Người Lô Lô có những nương thuốc phiện,nay đã bỏ.

Người Lô Lô dùng liềm cắt lúa. Dụng cụ nông nghiệp có cày (trâu bò kéo), bừa, cào cỏ, cuốc, dao phát, liềm…Biết dùng phân ủ và phân lá. Với Người Lô Lô công việc hái lượm không giữ vai trò quan trọng. Vì sống định cư, địnhcanh nên việc chăn nuôi nhà nào cũng phong phú: lợn, gà, dê, ngựa, trâu, bò…phần lớn thả rông tự kiếm ăn, một nửa ngày mới cho ăn thêm. Đồng bào Lô Lô có những đàn trâu và ngựa khá đông, Ngựa dùng thồ hàng ra chợ, tải phân ra ruộng, chở người.

Phương tiện vận chuyển và đi lại chủ yếu của Người Lô Lô là dùng gùi đeo qua vai để chuyên chở hàng, địu con. Dùng ngựa chở những nơi đường có thể đi được. Ngày nay họ đã dùng xe máy.

Người Lô Lô vùng Đông Bắc đã biết làm kinh tế hàng hóa hoặc trao đổi vật phẩm tại các chợ. Họ mua muối, dụng cụ sản xuất, vải vóc, thuốc…và đem bán các sản vật nông nghiệp, gia súc, dược liệu.

Đời sống sinh hoạt

Ở. Nhà của Người Lô Lô tùy từng địa phương sinh sống, thường có ba loại nhà ở: nhà trệt nhiều nhất, nhà sàn và nhà nửa sàn. Nhà thường làm một gian, hai chái, hoặc ba gian hai chái. Nhà được cất nơi hơi bằng phẳng ven núi hoặc chân núi, ven đồi. Loại nhà tường trình bằng đất dày 30-40cm, để giữ ấm mùa đông và phòng thủ chống cướp. Nhà nửa sàn nửa đất chỉ là tùy vào địa hình làm nhà và thói quen riêng của địa phương.

Ăn. Người Lô Lô ăn ngô là chính. Ngô xay thành bột ăn với rau, củ nấu canh. Thịt gia súc dùng trong các ngày hội, tết và ngày cúng lễ. Sử dụng bát gỗ, thìa gỗ trong ăn uống.

Mặc. Người Lô Lô biết dệt vải tự may. Ngày nay họ thường mua. Tóc để dài (nữ) vấn quanh đầu, đội chiếc khăn dài tràm pha trắng ba lớp. Phụ nữ mặc cổ áo tròn, xẻ ngực, chui đầu (nhóm ở Bảo Lạc). Nhóm khác lại mặc áo cổ vuông, chui đầu, tay dài. Phụ nữ Lô Lô có kỹ thuật rất giỏi về chắp vá các màu sắc trang trí áo, quần. Váy biết chiết li và gấp nếp khá đẹp. Nam y phục màu chàm đơn giản. Ngày này họ thích mặc âu phục như  người Kinh.

Quan hê xã hội và phong tục tập quán

Như đã nói ở trên, người Lô Lô sống tụ cư cùng nhau và sống định cư ổn định từ sớm. Gia đình chung sống thường 2 hoặc 3 thế hệ(ông bà – cha mẹ-con cái) có kinh tế chung. Gia đình nào cũng thờ cúng tổ tiên – đây là một trong những hình thức tín ngưỡng. Việc thờ cúng không theo dòng trưởng, dòng thứ như một số dân tộc ở phía Bắc. bàn thờ kê sát vách gian đối diện với cửa chính, trên có bài vị, bát hương. Chỉ duy nhất ở người Lô Lô có biểu tượng tổ tiên làm bài vị bằng gỗ cắm trên vách đá. Tổ tiên xếp theo thứ bậc từ trái sang phải. với dân số chưa tới 4000 người, nhưng người Lô Lô có trên 30 dòng họ khác nhau: Vàng, Chông, Lô, Ly, Bàn, Hoàng, Lú, Nùng, Doãn,… người Lô Lô giữ nguyên tắc ngoại hôn, nên các dòng họ khác nhau được lấy nhau. Dòng họ có quy tắc riêng, có nghĩa địa riêng (đặt trong nghĩa địa chung của bản)

Nghi lễ nông nghiệp là hình thức tín ngưỡng liên quan tới cây lúa, mẹ lúa, thường tiến hành do mỗi gia đình và cái chung ở bản. Hàng năm, vào dịp đầu năm, người Lô Lô làm lễ đánh thức hồn lúa, làm lễ xông lúa, xông đất, cúng ruộng.

Cưới hỏi. người Lô Lô theo phụ hệ, cưới vợ về ở nhà chồng. Việc cưới xin cũng tiến hành từng bước: chạm ngõ, ăn hỏi, lễ cưới, rước dâu. Cưới xin rất tốn kém và nặng nề vì quan niệm gả bán con, nhà gái coi như mất con nên việc thách cưới rất cao. người Lô Lô cho phép con trai cô (con chị gái hoặc con em gái) lấy con gái cậu và không được thực hiện ngược lại quy địnhnày.

Ma chay. Một gia đình có người mất, cả xóm, bản cùng lo theo cách rất riêng của phong tục Lô Lô thể hiện tục săn đầu xa xưa. Một số đàn ông cởi hết quần áo, dùng lá cây quấn toàn thân, mạt dùng mo cau vẽ hoặc mặt nạ để không ai nhận ra. Tất cả chờ tới chiều kéo về nhà có tang. Trên đường về gặp bất cứ ai, nhất là đàn bà, đoàn hóa trang dùng gậy quật, ném đá xua đuổi và có thể làm chết người không bị tội vạ. Người hóa trang vì che mặt, thân thể nên không thể biết ai đã gây ra cái chết. Còn dân làng đã biết tục lệ này nên không ra đường để tránh tai vạ. Tới gia đình có người chết, đám hóa trang múa quanh thi hài (buổi chiều), và múa buổi tối trước khi đưa ma người chết. Họ tuyệt đối câm lặng nhảy múa, không nói cười, hỏi nhau. Xong đám tang, đoàn hóa trang vào rừng vứt bỏ mặt nạ, lá và mặc quần áo trở về làng. Nhiều nơi cả phụ nữ cũng tham gia đoàn hóa trang. Một người đàn ông cũng nhảy múa, nhưng lưng buộc túi vải như hình cái hộp trong có đựng khúc gỗ hoặc quả bầu nậm có vẽ mặt người. Điều này phản ánh tục săn đầu người cổ xưa trong cư dân Lô Lô. Trong đám tang, người con rể giữ vai trò quan trọng. Anh ta khiêng 1 đầu quan tài (nếu là bố mẹ vợ), anh ta cũng là người đặt hòn đất đầu tiên lên mộ đắp bố mẹ vợ. Trong đám tang, người Lô Lô gõ trống đồng để đưa linh hồn người chết về nơi cực lạc. Trống đồng vùi trong đất và giữ bí mật, được đào lên chỉ dùng vào việc tang lễ hoặc cúng tế lớn.

Tết Nguyên Đán tổ chức rất to và thiêng liêng như ở người Việt và người Hán. Họ chờ đợi phút giao thừa. Khi bất kì tiếng gà gáy đầu tiên trong bản ở đâu vang lên là cả bản lấy đó làm thời khắc giao thừa. Nhà nhà, đàn ông mang súng kíp bắn lên trời vang động, có nhà đốt pháo sáng. Phụ nữ kéo nhau ra suối xin nước đầu năm. Lợn,trâu, bò, gà , vịt… được đánh thức ầm ĩ. Ngựa hí vang bản náo động và hồ hởi đón năm mới xuân sang.

Văn hóa, văn nghệ. người Lô Lô đã từ trăm năm không nhận biết thứ chữ tượng hình cũ của dân tộc xưa, nên việc để lại một kho tàng lớn văn hóa, nghệ thuật là từ truyền miệng. Truyện về Sự tích trống đồng, sự tích nguồn gốc người Lô Lô (qua đại hồng thủy, còn sót 2 anh em ruột chui vào trống). Nước rút hết, chẳng còn ai. Họ lấy nhau và trở thành thầy tổ của người Lô Lô bây giờ).Chuyện ông Sáng bằng thơ là một thần thoại hay của người Lô Lô. người Lô Lô còn có những điệu hát, ca dao, tục ngữ còn truyền lại. Ngày nay, người Lô Lô học tiếng phổ thông, tiến bộ rất nhanh trong chế độ mới, nhiều người học hết cấp 2, cấp 3 (phổ thông trung học ngày nay), đại học, có người đỗ Tiến sĩ, người làm công tác kinh tế, khoa học.

Một nét riêng, độc đáo vẫn còn duy trì hiện nay của người Lô Lô là trống đồng dùng trong các ngày lễ trọng, trong đón giao thừa năm mới và tiễn đưa người chết về nơi an nghỉ. Trống đồng, cách đánh trống biểu hiện quan niệm về vũ trụ, trời đất, âm dương theo cách hiểu của dân tộc Lô Lô. Trống đồng được chôn bí mật nơi kín dưới đất. Khi có việc mới đào lên,lau chùi sạch sẽ. Có trống đực và trống cái, vì thế dùng trống phải đánh cả đôi. Quy định chỉ đàn ông chưa vợhoặc nếu có vợ nhưng người vợ chưa ở thời kì thai nghén, lúc đó mới được đánh trống. Hai cái trống quay mặt vào nhau, có một khoảng trống ở giữa. Người đánh trống cầm dùi và đánh trống bằng hai đầu dùi. Đánh trống có biến tấu, nhịp điệu, cao thấp, to nhỏ. Người ta đã sáng tạo ra 36 điệu trống đồng.

Hội hóa trang (không mặc quần áo) và múa lễ cũng là nét văn hóa tiêu biểu, cổ xưa còn giữ lại của người Lô Lô. Quan niệm âm dương hòa hợp sẽ làm nảy sinh và bảo tồn cuộc sống đã được cụ thể hóa ở người Lô Lô qua việc phải cùng lúc sử dụng trống đực và trống cái. Các hình vẽ từ một trâu, bò lợn thổi phồng cố tạo ra hình dáng cơ quan sinh dục của người dùng trong lễ hội hóa trang múa bên người chết cũng là một biểu tượng âm dương.

người Lô Lô còn đểlại nhiều bài hát dân gian hát cùng trống đồng theo lời thơ như Hát dẫn (báo tin), Hát tiễn hồn,…

 

 

 

 

 

 

Gửi bình luận của bạn
x