Các tộc người

Dân tộc Lự

20-10-2016 - 22:14 - 301 lượt xem

Pa Vệ Sủ

 

Người Lự sinh sống ở vùng Tây Bắc Việt Nam. Tiếng Lự thuộc nhóm ngôn ngữ Tày Thái. Dân tộc Lự có khoảng 6.509 người cư trú ở tỉnh Điện Biên và Lai Châu.

Theo số liệu của các nước trong khu vực, Người Lự còn cư trú ở Trung Quốc: Xíp xong Pà na – tỉnh Vân Nam, ở Thái Lan: Chiềng Rai, chiềng Mai. ở Thượng Lào và ở Mianma.

Lự là tộc danh chính thức, ngoài ra có tên gọi: Tháy Vi, Tháy Sin, Tháy Hung. Ở Lào, Thái có Người Lự có tên gọi là Lào, Lùm, ở Mianma có tên gọi Nhuồm, ở Trung Quốc có tên gọi Pa Dí. Đồng bào đến cư trú ở Việt Nam trong khoảng từ thế kì X đến XIV, trước cả người Thái.

Người Lự là cư dân thành thao canh tác lúa nước, dùng sức kéo trâu bò đẻ cày, bừa, làm đất. Họ đã biết sử dụng phân xanh, phân chuồng để bón lúa, tạo lập một hệ thống mương tưới tiêu nước hoàn chỉnh. Đặc biệt, Người Lự có tập quán đào mương xung quanh các thửa ruộng để giữ nước. Người Lự cũng canh tác nương rẫy với các nương trỉa lúa, nương trồng ngô, khoai, sắn, nương trồng bông, chàm…Ngô là cây lương thực quantrong thứ 2 sau cây lúa, ngô vừa đẻ ăn vừa để chăn nuôi. Người Lự có thói quen canh tác vườn, trồng cây ăn quả như chuối, mít, đu đủ, các loại bầu, bí…

Nghề thủ công, săn bắt ở Người Lự khá phát triển. Người Lự có nghề rèn gươm nổi tiếng. Họ biết trồng bông, kéo thành sợi, nhuộm chàm dệt vải, thổ cẩm. Mỗi nhà thường có trên 2 khung cửi. Thổ cẩm của Người Lự có nhiều đường nét hóa văn đẹp hơn cả thổ cẩm của người Thái.

Trang phục của phụ nữ Lự là áo chám ngắn ngang thắt lưng, thân rộng, ống tay rộng, xẻ ngực, gấu áo viền nhỏ, lượn tròn trước sau. Đặc biệt, cánh tay áo hai bên bao giờ cũng được can bằng một khoanh vải màu trắng, thêu chỉ đỏ. Váy của người phụ nữ Lự may rộng, màu chàmđen, phía trước can dọc một tấm can ngang bằng thổ cẩm dài sát gấu, phía trên váy từ ngang hông đến thắt lưng lại thêu một hoặc hai đường chỉ nhỏ. Phụ nữ Lự quấn khăn dài, dệt nhiều mảng trang trí quanh đầu hai vòng để đầu khăn và búi tóc xõa bên trái. Nam giới mặc quần vải màu chàm đen, áo cánh xẻ ngực cài khuy tết dây vải, hai vạt may hai túi và một túi ngực trái. Quần từ đầu gối trở xuống ống hơi hẹp, có thêu hoa văn. Nam giới quấn khăn đen nhiều vòng quanh đầu.

Người Lự tập trung thành bản khoảng 30-40 gia đình. Bản Người Lự thường ở trên những bãi đất bằng phẳng, dọc theo nguồn nước. Nhà sàn có 4 mái, hai mái đầu hồi ngắn, mái sau cũng ngắn, mái trước kéo dài che kín hiên sàn, là nơi thường để khung cửi và các dụng cụ dệt. Mái trước có khi che kín cả cầu thang lên xuống. Trong nhà ngăn ra thành nhiều buồng ngủ, nhà có 2 bếp, 1 bếp nấu ăn hàng ngày và 1 bếp nấu tiếp khách. Người Lự có tục không làm lễ lên nhà mới vào giữa trưa và buổi chiều.

Người Lự thờ cúng tổ tiên là ma nhà ở gian lóng trong nhà, mỗi năm 1 lần cúng ma nhà vào tháng giêng lịch Lự (tức tháng 10 âm lịch). Khi cúng thắp 10 ngọn nến sáp ong quanh mâm  cỗ, mời ông chẩu bô (thày cúng) đọc bài cúng. Vào tháng Giêng có lễ kiêng bản với mâm cỗ 3 yếm lợn, 3 khoanh cổ lợn tại nhà cúng ma bản dựng ở đầu bản ở cạnh sông hoặc suối. Mồng 3 tháng 3 có lễ cúng ma rừng ở khu rừng thiêng (đông căm) với mâm cỗ 3 yếm lợn. Sau khi chẩu bô đọc bài cúng xong, cả bản ăn cỗ, uống rượu, chơi kéo co, ném én, hát sáo đôi, múa kiếm. “Nội bất xuất, ngoại bất nhập” từ 3-9 ngày, gọi là những ngày kiêng bản, kiêng mường.

Nam nữ Người Lự được tự do tìm hiểu, nhưng phải được 2 gia đình nhất trí khi muốn tiến tới hôn nhân.Người thầy cúng cũng có tiếng nói quyết định hôn nhân. Thày xem bói xem 2 người có hợp tuổi nhau không, nếu mọi thứ đều phù hợp thì tiến hành hôn lễ. Hôn lễ theo 3 bước: ăn dạm, ăn cưới, đón dâu, và ăn giáp tối. Sau khi ở rể 3 năm, và về làm dâu 2 năm, vợ chồng mới được tách ra ở riêng thành gia đình.

Phong tục ở rể của Người Lự được tiến hành ít ngày sau lễ ăn hỏi và thường chỉ thực hiện vào 3 tháng cuối năm dịp sau vụ thu hoạch lúa mùa. Tục lệ không cho phép sau cưới hỏi mà chú rể trì hoãn ở rể quá 3 tháng để sang năm sau. Tục ở rể Lự kéo dài từ 3 tới 5 năm, cũng có trường hợp lâu tới tận 10 năm do hoàn cảnh bố mẹ vợ neo đơn, già yếu không có người chăm sóc phụng dưỡng. Cũng có trường hợp vợ chồng chú rể ở với mỗi bên nội ngoại đủ 3 năm luân phiên rồi tách ra ở riêng. Nhưng chàng rể phải gánh vác thêm nhiều công to việc lớn bên nhà vợ. Việc sinh con trong thời gian ở rể cũng không làm tăng, giảm thời gian ở rể theo phong tục. Ngược lại, trong thời gian bắt rể đôi vợ chồng không sinh con, bên vợ có thể kéo dài thời gian ở rể hoặc đơn phương khước từ chàng rể.

Với Người Lự hiếm khi xảy ra li hôn. Tục lệ cũ Người Lự , nếu phụ nữ bỏ chồng phải phạt 1 con trâu, trai bỏ vợ phạt 1 con bò. Sau khi li hôn của cải được chia đều cho cả 2 người.

Người Lự có họ, tên đệm chỉ giới tính như nhiều dân tộc anh em ở miền núi phía Bắc. các dòng họ chủ yếu là Vàng, Tào, Lò, Tộc danh được truyền từ đời nọ sang đời kia, không được thay đổi. Tên người thay đổi theo những đổi thay của bản thân và gia đình, xã hội. Tên đầu đời là cách gọi êm yếu, phù hợp với đặc tính, đặc điểm đứa trẻ. Nếu gặp sự cố gia đình, cộng đồng hay bệnh tật và nỗi bất hạnh của bản thân thì thay đổi tên khác. Bà con cho rằng làm vậy để đánh lừa thần linh, ma quỷ không theo bắt, gây hại cho người đó được. Tên đệm được giữ suốt đời chủ yếu để phân biệt giới tính. Nữ có tên đệm Y, nam dùng tên đệm là Bạ để phân biệt.

Trong quan niệm truyền thống Người Lự tin rằng con người có nhiều hồn. Hồn chính nằm trên đầu, các hồn phụ nằm ở mắt, mũi, mồm, và các bộ phận khác của cơ thể người. Đồng bào tin rằng con người sau khi chết thì chỉ chết về phần xác còn linh hồn vẫn tiếp tục sống trong thế giới tâm linh, thế giới của các linh hồn.

Tang lễ Người Lự vừa thể hiện thế giới 2 bên, tức theo quan niệm người chết tiếp tục sống ở thế giới bên kia, nhưng vẫn mang tính Phật Giáo. Những người chết trẻ, chết bất đắc kì tử thì chết ở đâu chôn ở đó. Còn người chết già, thi hài quàn ở nhà, rồi thuê 8 người ngoài họ khiêng rừng chôn cất. Gia chủ giết 1 con trâu đem cúng tiến hồn ma, bày cỗ ăn uống. Sau 1 thời gian, gia đình có người chết làm một nhà táng bằng giấy trang trí gọi là coong lan và một số lễ vật cúng đưa linh hồn người chết lên chùa (chùa chỉ mang tính chất tượng trưng)

Trong đồng bào tồn tại 2 hình thức tín ngưỡng; Tín ngưỡng đa thần và tín ngưỡng của đạo Phật. Quan niệm đa thần phản ánh thế giới hư ảo xung quanh mà con người phải phụ thuộc. Quan niệm đạp phật xác định chỗ đứng của con người trong thế giới đương đại và tương lai. Mỗi vật, cơ thể sống đều có linh hồn. Con người đương sống được bao quanh các thần linh, ma quỷ, siêu nhiên. Những tác nhân đó tồn tại trong mỗi con người, trong mỗi gia đình, cộng đồng,ở trên trời, dưới nước, ở trong rừng, ở nơi ruộng rẫy. Các siêu hồn này thường ở 2 thái cực đối lập nhau, nhóm phù hộ con người và nhóm gây hại con người. Có thể gọi quan niệm này ở những ma tiêu biểu như sau:

Ma bản là hồn ma của người lập bản đầu tiên. Mỗi cộng đồng làng bản dựng nhà cúng mà bản ở rìa làng nơi có khu rừng già, mỗi năm được cúng lễ một kỳ.

Ma rừng là hồn ma lớn nhất trong tín ngưỡng tâm linh của Người Lự. Đó là hồn mà của những người có công lập vùng đất cư trú, đánh đuổi kẻ thù, giặc giữ. Mỗi chu kỳ cúng ma rừng là 3 tới 4 năm.

Mà nhà là thế lực siêu nhiên phù hộ cho cả nhà và từng thành viên trong nhà, bảo vệ cho ngôi nhà không bị thiên tai, hỏa hoạn, trộm cướp.

Theo quan niệm của đồng bào, ma ác gây bênh tật, dịch bệnh, gieo chết chóc cho người. Ma có thể làm cháy nhà, phá mùa, xô đẩy con người nảy nở những ý đồ xấu dẫn tới tội lỗi. Nguyên nhân xuất phát ma ác là do con người không tôn trọng tập quán, tĩn ngưỡng, luật tục. nghi lễ, đốn cây cổ thụ,xâm phạm rừng nghiêm trọng, vi phạm điều cấm kị trong làm nhà, làm nương, cày ruộng.

Ngày nay, do từng bước được nâng cao hiểu biết về dân sinh, dân trí nên quan niệm về ma không còn tồn tại nặng nề chỉ còn trong nghi thức tín ngưỡng nhuốm màu sắc văn hóa tâm linh không gây tác hại tới sản xất và đời sống con người.

Người Lự có kho tàng truyện ngắn dân gian, tục ngữ, thơ ca nói về cảnh đẹp thiên nhiên, lao động sản xuất, về những nhân vật lịch sử. Người Lự có điệu hát dân ca gọi là khắp. Khắp được hát trong ngày hội, ngày đám cưới, khi về nhà mới, lúc đi rừng, trong giờ nghỉ ngơi, khi nam nữ trao duyên. Người con gái cầm khăn mặt đỏ che mặt hát theo tiếng sáo do người con trai thổi đệm, gọi là sáo đôi, lối hát này gọi là ỉu khống, hát từ lúc màn đêm buông xuống đến tận đêm khuya.

Từ ngày đất nước được giải phóng khỏi ách áp bức của thực dân phong kiến, dân tộc Lự mới thực sự có được vị trí xứng đáng trong cộng đồng các dân tộc Việt nam. Cuộc sống của đồng bào đã đổi thay căn bản. Cuộc vận động định canh định cư đã mang lại cuộc sống ổn định, cơ sở hạ tầng sản xuất, hạ tầng xã hội trong vùng được ưu tiên xây dựng làm cho diện mạo cư trú của các cộng đồng dân cư phát triển theo chiều hướng tiến bộ nhưng vẫn bảo tồn và phát huy được yếu tố văn hóa truyền thống. Đồng bào đã có nhiều đóng góp trong các cuộc kháng chiến trước đây và trong công cuộc xây dựng, bảo vệ tổ quốc ngày nay ở miền Tây Bắc đất nước.

 

 

Gửi bình luận của bạn
x