Các tộc người

Dân tộc M' Nông

28-02-2017 - 17:28 - 276 lượt xem

Pa vệ Sủ

DÂN TỘC M’NÔNG

Dân tộc M’Nông có khoảng 119.254 người,gồm nhiều nhóm điạ phương: Preh, Gar, Nong, P răng, R lăm, Kuy ênh, Chiul. ĐỒng bào cư trú tập trung ở phía Nam các tỉnh Đắc Lắc, Đắc Nông một phần tỉnh Lâm đồng, Bình phước, Đồng nai.

Tiếng nói của người M’Nông thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer.

người M’Nông làm rẫy là chính, ruộng nước chỉ có vùng ven hồ, đầm, sông. Những con vật nuôi thông thường ở trong các gia đình là trâu, chó, dê, lợn, gà và một số nhà nuôi cả voi. người M’Nông ở Bản ĐÔn có nghề săn và thuần dưỡng voi nổi tiếng. Nghề thủ công của người M’Nông có dệt vải sợi bông do phụ nữ đảm nhiệm và đan lát các dụng cụ như gùi, giỏ, mùng do đàn ông làm.

người M’Nông có cả nhà sàn và nhà trệt, ngôi nhà trệt khá đặc biệt bởi chân mái thường buông xuống gần đất,nên cửa ra vào có cấu trúc vòng như tổ tò vò.

Mỗi làng thường có vài chục nóc nhà, ông trưởng làng đóng vai trò quan trọng trong dân làng. Mọi người sống theo kinh nghiệm và tập tục truyền lại từ nhiều đời. Nam, nữ, già, trẻ ai cũng thích rượu cần và thuốc lá cuốn.

Đàn ông thường đóng khố, ở trần. Đàn bà mặc váy quấn bông dài trên mắt cá chân. Thanh niên nam, nữ thường mặc áo chui đầu. Khố, váy, áo màu chàm thẫm trang trí hoa văn đỏ đẹp mắt.

người M’Nông theo chế độ mẫu hệ. con cái mang họ mẹ, trong gia đình người vợ giữ vai vị trí chính, nhưng người đàn ông không bị phân biệt đối xử, họ sống tôn trọng nhau. Cha mẹ về già thường ở với con gái út.

Theo nếp cũ, đến tuổi trưởng thành, người M’Nông phải cà răng mới được yêu đương lấy vợ lấy chồng. Phong tục cưới xin gồm 3 bước chính là dạm hỏi, lễ đính hôn, lễ cưới. Sau khi cưới, chàng rể thường về nhà vợ. Những cũng có nơi đôi vợ chồng trẻ ở phía nào tùy thỏa thuận giữa hai gia đình.

người M’Nông thích nhiều con, nhất là con gái. Sinh con sau một năm mới đặt tên chính thức. Trong tang lễ, đồng bào có tập quán ca hát, gõ chiêng trống bên áo quan suốt ngày đêm. Sau khi hạ huyệt, đồng bào dùng cây, que và lá cây trải kín miệng hố rồi mới lấp đất lên trê. Qua 7 ngày hoặc 1 tháng, gia chủ làm lễ đoạn tang.

người M’Nông có rất nhiều thần linh liên quan đến cuộc sống của mình, trong đó, thần lúa giữ vị trí đặc biệt, hàng năm cùng với việc cah tác, người M’Nông thực hiện những nghi thức nhằm gì giữ thần lúa, cầu mong mùa màng bội thu.

-          Lễ hội vòng đời người: Lễ đặt tên thổi tai, lễ cưới, lễ bỏ mả, lễ trưởng thành, lễ cúng sức khỏe

-          Lễ hội vòng cây cối: Lễ gieo hạt, lễ ăn cơm mới, lễ cúng bến nước, lễ rước Lkapan, lễ cầu mưa, lễ mừng mùa, lễ ăn trâu mừng được mùa, lễ tắm lúa, lế cũng voi….

Các lễ trên chỉ diễn ra từ cuối tháng 11 đến hết thàng 3 dương lịch hàng năm

Có thể nói, lễ hội dâng trâu là một hoạt động văn hóa – tín ngưỡng sôi động, đặc sắc, tổng hợp nhất của nhiều dân tộc ở vùng Trường Sơn – Tây Nguyên. Trong lễ hội này không phải chỉ co đâm trâu, ăn trâu dâng trâu mà còn có mặt rất nhiều loại hình dân ca, diễn xướng dân gian khác như âm nhạc, múa, nghệ thuật tạo hình…tạo nên một không khí vừa uy nghiêm trong lễ, vừa hoành tráng trong hội, đẩy sắc thái riêng biệt của người dân tộc M’Nông Tây Nguyên hùng vĩ.

Lễ hội dâng trâu là hoạt động tín ngưỡng, do thế không thể thiếu của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, tiêu biểu là dân tộc M’Nông.. Đây là dịp để cộng đồng, gia đình đâmtrâu tế thần, làm lễ mừng thắng lợi, lễ trả ơn thần, mong thần linh ban cho nhân khang vật thịnh, mùa màng sinh sôi, cuộc sống no đủ, người người hạnh phúc.

Hình tượng con trâu đã gắn bó với sinh hoạt của người dân Việt Nam, với nhiều hoạt động vật chất và tinh thần của các cộng đồng người. Có nơi con trâu được dựng làm tượng thờ, làm vật trang trí. Ở Đồ Sơn (Hải Phòng) có lễ hội chọi trâu. Có những làng nuôi trâu giỏi nhưng không bao giờ ăn thịt trâu và không đánh đập trâu. Ở Hà Nội có sự tích “trâu vàng hồ Tây” Và nơi Tây Nguyên xa xôi kia, có một lễ hội độc đáo liên quan đến con trâu:lễ hội dâng trâu (hay còn gọi là lễ đâm trâu) là một sinh hoạt văn hóa dân gian đặc sắc.

Lễ hội dâng trâu cộng đồng M’Nông có ý nghĩa là một hội vui của toàn buôn làng. Lễ hội này trước kia được tổ chức với nội dung chiến thắng, khi đòi được nợ hoặc khi thắng trận. Con trâu là vaatjdungj làm vật hiến lễ là do cộng đồng thua trận nộp vạ. Hiện nay, ý nghĩa mừng chiến thắng phai nhạt dần, nhường cho ý nghĩa khác: đó là sự biểu dương sức mạnh cộng đồng, là ăn mừng được mùa và cầu thần, khấn thánh ban cho cộng đồng sức mạnh, sự phồn vinh và khang minh. Nhiều khi lễ tổ chức trong phạm vi gia đình, ý nghĩa vẫn vậy, nhưng quy mô nhỏ hơn.

Lễ hội dâng trâu, trong đó nổi bật là hình thức đâm trâu và ăn trâu là hoạt động tinh thần của người M’Nông, mang đậm dấu ấn văn hóa.

Để làm lễ Tâm Nghết – dâng trâu mừng mùa, điều cần thiết và đầu tiên là phải làm cây nêu và dựng cây nêu,có con trâu và buộc con trâu vào cây nêu; lễ được thể hiện hết sức công phuvaf nhiều tiết mục, từ việc tiến hành cúng trâu, cúng cây nêu, cúng ché rượu, hát múa, đánh chiếng gọi thần lúa, hát khóc trâu, già làng tuyên bố chém trâu cho dân làng, nấu nếp ống, nướng con lợn, dọn ăn mời khách, uống rượu ăn đầu traauvaf tiễn khách ra về.

người M’Nông có tục N’Giáp Bon có nghĩa là đoàn kết trong buôn làng, gặp mặt đoàn kết với các buôn làng bạn, kết thân, kết bạn. Đây là tục lễ mang tính nhân văn nhân bản, một nghi thức không thể thiếu được trong hệ thống lễ hội vòng đời con người. Tục kết bạn được tổ chức 3-5 năm một lần, nếu có sự cố, nguy cơ ảnh hưởng tới buôn làng như thiên tai, địch họa, kẻ xấu phá hoại thì tổ chức lễ đột xuất. Đồng bào phân công chuẩn bị ủ rượu cần, chọn tìm trâu tế, làm cây nêu, luyện tập múa, đánh chiêng. Lễ vật chuẩn bị gồm một con trâu đực, hai con heo, hai mươi ché rượu cần, các hình nhân linh vật đan bằng tre nứa. Buôn làng đăng cai phải làm lễ xin thần linh, báo cáo ông bà tổ tiên biết để về dự.

Tục dựng cây nêu được coi là thiêng liêng, làm cây nêu rất công phu, trang trí và vẽ cầu kì hàng tháng trời. Cúng dâng lễ một con heo, một ché rượu,trước sự chứng kiến của thần linh và chứng kiến của cộng đồng. Cây nêu được hướng thẳng lên trời xanh. Dựng xong cây nêu, buôn làng nổi chiêng múa vòng quanh rồi dắt trâu tế đến buộc. Chủ lễ cúng nghi thức buộc trâu vào cột cây nêu rồi làm lễ khóc trâu. Mặt trời lên cũng là lúc các vị thần thức dậy, sau bài múa, lời khấn lời khóc, chiêng trống nổi lên các tráng sĩ M’Nông khiên giáo uy nghiêm múa vòng quanh cột nêu rồi đột ngột chặt đứt 2 khuỷu chân, đâm trúng tim con trâu tế. Già làng đặt lên lưng trâu bầu rượu,bát gạo, cái chiêng để cúng thần cầu cho buôn làng mình và các buôn làng bầu bạn đoàn kết một lòng, không ai làm điều ác, không đi theo kẻ xấu. các nghệ nhân cùng dàn công chiêng múa những vòng tròn từ giã con trâu về xứ thần linh.

Sau nghi thức tế trâu là các trò chơi dân gian mang tính thi tài trong cộng đồng: thi giã gạo, nướng cơm lam, kéo co, bắt cá trê trong chum,thi đan gùi, lảy bắp…các cuộc thi vui kéo dài đến khi cỗ được bày ra trên lá rừng, ché rượu cần ngậm đấy nước mát. Cộng đồng mời nhau đánh chiêng, uống rượu, ăn thịt trâu cho đến chọn ngày. Tục lệ kết bạn, kết buôn của người M’Nông cùng với giá trị cầu mùa, tế thần còn là nghi thức cầu mong cho con người và cộng đồng đoàn kết 1 lòng, một dạ, xóa bỏ mâu thuẫn, thù hằn, chia sẻ cùng nhau chống lại thiên tai địch họa, ngăn chặn kẻ xấu, đề cao người tốt, việc tốt.

Làng M’Nông được gọi là bon, mỗi làng chừng 10 đến 20 nóc nhà. Xưa kia là nhà dài của gia đình lớn, nay chia thành gia đình nhỏ các bon M’Nông có thể bốn, năm mươi nóc nhà. Các nhà trong bon thường có quan hệ nhân tính theo dòng họ nữ. Giữa các nhà gắn bó với nhau bởi phạm vi đất ở, đất canh tác đất chăn nuôi, rừng hái lượm, đất nghĩa địa và phạm vi sông suối ngăn cách với các bon khác. Đất bon thuộc quyền sở hữu công cộng, mỗi nóc nhà được sở hữu theo phạm vi nhất định, được cộng đồng tôn trọng theo tập quán M’Nông.

Hiện nay, làng M’Nông bao gồm những thành viên của nhiều dòng họ, là những thành phần ngoại buôn. Tên riêng của các nhân đều đứng trước và gắn với họ mẹ. Trong làng người cùng dòng họ có quan hệ gần gũi, có khu vực nghĩa địa riêng để phân biệt.

người M’Nông có kho tàng văn hóa dân gian phong phú bao gồm sử thi, cồng chiêng, múa snang, dân ca,dân nhạc các hình thức kể chuyện gia phả, kể chuyện gia huấn phong, nghệ thuật thêu dệt hoa văn trên vải, đồ đan mây tre truyền thống.

Đồng bào M’Nông đã đóng góp công sức, xương máu trong kháng chiến giữ nước và xây dựng đất nước. Trong thời kì đổi mới vùng cư trú của đồng bào đã có nhiều thay đổi kì diệu, cuộc sống no ấm, bình đẳng, đoàn kết chan hòa trong mọi bon làng cùng với bảo tồn phát triển văn hóa dân tộc.

 

 

 

 

 

Gửi bình luận của bạn
x