Các tộc người

DÂN TỘC MẠ

28-10-2016 - 21:00 - 574 lượt xem

Pa Vệ Sủ

 

Người Mạ là cư dân bản địa sinh sống lâu đời ở phía nam Tây Nguyên. Mạ là tộc danh đồng bào tự gọi cùng với tên khác là Châu Mạ, Chò Mạ, Chê Mạ. Nhóm địa phương gồm có Mạ Ngàn, Mạ Xốp, Mạ Krung, Mạ Tố. Tiếng Mạ thuộc nhóm ngôn ngữ Môn Khmer. Dân tộc Mạ có khoảng 46.202 người, cư trú tập trung ở tỉnh Lâm Đồng, Bình Phước và Đồng Nai.

Hoạt động sản xuất của Người Mạ chủ yếu là canh tác nương rẫy luân canh và xen canh. Rẫy mới vụ đầu mùa trỉa lúa, có thể trải lúa hai vụ rồi bỏ hóa thành rừng, tiếp tục phát đốt rừng làm rẫy mới. Cứ thế, phương thức luân canh gắn bó với Người Mạ từ bao đời nay. Công cụ sản xuất là con dao, cuốc, gậy chọc lỗ, liềm gặt…Nương của Người Mạ trồng xen canh bên canh cây lúa là: ngô, đỗ, bầu, bí, mướp, dưa, ớt, thuốc lá.

Người Mạ ở hạ lưu sông Đa Plai, Đa The, Đa Rmih có nhiều bãi ngập nước, vào mùa mưa làm nương nước gọi là S rê, theo cách thức lùa trâu quần nước cho ngấu đất, rồi dùng trang làm cho phẳng để hơi khô tung vãi thóc, hoặc để thật khô, chọc lỗ, trỉa hạt như trên rẫy khô. Ngày nay dùng cày bừa ruộng lúa nước và bón phân. Người Mạ biết canh tác vườn. Những mảnh vườn quanh nhà thường được rào tre nứa mắt cáo, nay có cả lưới sắt. Trong vườn trồng chuối, mít, múa, đu đủ, thuốc lá, trồng bông.

Chăn nuôi của dân tộc Mạ chủ yếu chăn nuôi bò, trâu, lợn, gà, dê để tiến hành nghi lễ hiến tế. Một số gia đình Người Mạ nuôi ngựa và nuôi voi vào việc vận chuyển. Nghề thủ công của Người Mạ là nghề hụ trng gia đình, nghề đan mây tre đáp ứng được nhu cầu về dụng cụ trong gia đình như thúng, nia, sáng, gùi, giỏ…Nghề dệt vải khung nhỏ đạt kỹ thuật cao, thể hiện trong việc dệt những hoa văn trên nền vải. Ngoài ra, nghề rèn có ở nhiều làng để sản xuất và sửa chữa dao, cuốc…. Người Mạ trước đây biết tìm quặng trong cát và trên núi cao về luyện thành sắt. Người Mạ ở ven sông Đạ Dương có kĩ thuật làm thuyện độc mộc để đi lại, vận chuyển, đánh cá trên sông.

Trước đây, đàn ông mạ chủ yeus đóng khố, cởi trần. Khố có 2 loại đơn giản, chỉ là đoạn vải màu chàm đen, có loại dệt cầu kì hai đường hoa văn, chạy dài hai bên mép khố, đầu có nhiều tua dài, đính hạt cườm. Về mùa lạnh, nam giới mặc thêm áo ngắn chui đầu, vạt sau dài hơn che kín mông, đôi khi thêm nhiều tua dài ở vạt sau, bên ngoại khác thêm tấm mền. Trang phục của phụ nữ Mạ thường là váy quấn dài ngang bắp chân, trên mặc áo ngắn ngang thắt lưng, chui đâu, kín tà, hai vạt sau trước đều bằng nhau. Váy áo đều may ngang khổ vải, dệt nhiều đường hoa văn chạy dọc, nên quanh váy, quanh thân áo, ống tay áo có nhiều đường hoa văn chạy song song. Người Mạ trước đây cũng có tập quán cà răng trước hàm trên và xâu lỗ dái tai vàng. Nam nữ đều thích đeo nhiều vòng đồng ở cổ tay, có ngấn khắc chìm.

Bữa ăn của Người Mạ là cơm tẻ, thức ăn thường là muối ớt trộn, sả. Rau gồm có măng,rau rừng, bí mướp, cà, sắn, măng…luộc chấm muối trộn ớt. Ngoài ra còn có thêm cá, tôm, cua, ốc bắt được ở sông,suối hay thịt thú rừng săn được. Rượu cần là thức uống được yêu thích trong mỗi gia đình và trong bữa ăn cộng cảm ở làng, nam, nữ già trẻ đều thích uống rượu cần và hút thuốc là bằng điếu khan.

Làng của Người Mạ tập trung khoảng 10 ngôi nhà sàn dài, cũng có khi làng gồm vài ba chòm xóm, mỗi chòm xóm có 1,2 ngôi nhà sàn dài. Làng thường tọa lạc trên bãi phẳng sườn đồi hay trong thung lũng gần sông suối để tiện nguồn nước sinh hoạt. Nhà sàn Người Mạ hiện nay phổ biến chỉ cao 0,4 đến 0.6 mét, có những ngôi nhà sàn còn thấp hơn nhà sạp, trong khi ngôi nhà sàn cổ trước kia sàn thường cao trên 1,5 mét. Kết cấu ngôi nhà sàn của Người Mạ cũng lấy dui làm kèo, lấy mè làm đòn tay, các mỗi liên kết buộc bằng  sợi mây hoặc dây rừng, mái lợp corgianh hoặc lá mây, che kín hai bên sườn và đầu mái nhà bằng phên nứa đan lóng đôi. Trong nhà thường mỗi gia đình chiếm 3 khoang. Khoang giữa chỗ gần cửa bếp, trên bếp bắc giàn để các thứ hạt giống như thóc, ngô, đỗ và các thứ cần bảo quản khô như thuốc lá, thịt sấy khô. Từ bếp tỏa vào phía trong và hai khoang hai bên lần lượt được bố trí nơi nghỉ ngơi, tiếp khách, nơi để đồ dùng nhà bếp, ống nước. Xunh quanh nhà ở thương được dựng nhiều kho lúa để cất lúa, ngô dùng dần.

Gia đình của người Mạ là gia đình nhỏ phụ quyền. trong một số làng người Mạ vẫn còn thấy gia đìnhlớn phụ quyền gồm 6-7 cặp vợ chồng và con cái họ cùng cư trú trong một ngôi nhà sàn dài, đứng đầu là chau pô kiu,người đàn ông cao tuổi nhất thuộc thế hệ trên trong gia đình. người Mạ liên kết dòng họ gọi là nao, chủ yếu là để cần đến khi hôn nhân diễn ra trongv việc nhận biết dòng họ và trong việc cúng lễ theo dòng họ. Tổ chức mang tính hành chính gần gũi quan trọng nhất ở người Mạ cũng vẫn là làng (bon). Làng là một công xã láng giềng gồm một số gia đình lớn, hoặc nhiều gia đình nhỏ cư trú cận kề nhau.

Con cái trong cùng một nao không được lấy nhau. Gia đình phụ quyền dã chiếm tuyệt đối trong đời sống xã hội nhưng hôn nhân diễn ra vẫn còn nhiều yếu tố mẫu hệ. Gia đình có con trai lớn 16,17 tuổi, qua người mai mối đi hỏi vợ, nhưng ý kiến của ông cậu (bên vợ) lại có ý nghĩa quyết định trong hôn nhân. Nhà trai nộp đủ đồ dẫn cưới cho nhà gái nhưng khi cưới xong, người con trai vẫn phải ở rể 8 ngày, sau đó mới được trở lại nhà mình. Trong lễ cưới, nhà trai mang đồ dẫn lễ sang nhà gái theo sự thỏa thuận trước. Hôn lễ được tổ chức ở nhà gái trước, có sự hiện diện của chủ làng, người mai mối, cùng họ hàng nhà gái.Đôi tân hôn đứng sát bên nhau trước cột cúng thần, chủ làng trùm lên đầu họ tầm mền ý là chủ làng thừa nhận hạnh phúc trăm năm của họ. Sau đó đôi trai gái trao đổi vòng tay cho nhau rồi uống chung một sừng rượu cần. Sau đó, cuộc vui ăn uống, múa hát kéo dài đến tận nửa đêm.

Trong đám ma người Mạ, khi có người qua đời, người làng khỏe mạnh được cử vào rừng tìm gỗ làm áo quan. Thi hài được mặc đồ quý nhất và bỏ vào quan tài những đồ trang sức. Người thân họ hàng mỗi người cắt một nhúm tóc bỏ vào trong áo quan để người chết có cái lợp nhà, Xuất phát từ quan niệm người chết vẫn tiếp tục tồn tại bên kia thế giới nên tang chủ chia nhiều đồ dùng cho người chết như: dao, rìu, đồ dùng bếp,…NHững đồ này chia nhỏ thì bỏ vào áo quan, to thì bỏ xung quanh quan tài hoặc trên nấm mộ. Những đồ này phải làm cho nó méo mó, đập rúm đi vì đó là đồ dùng của ma chứ không phải cho người. Sau khi chôn cất người chết, người Mạ bỏ mả luôn, tang chủ phải kiêng cữ 7 ngày không được đi rẫy, đi rừng.

người Mạ theo tín ngưỡng đa thần. Thần bao gồm: Thần thiện (yang) và thần ác (cha). Trong các thần ấy, cao nhất là Yang Nẩu – thần sáng tạo vũ trụ,muôn loài, muôn vật cùng các thần rừng (Yang bri), thần lửa (yang us), thần nhà (Yang biu)…Cúng thần vào những dịp vui như: Cưới hỏi, sinh đẻ, lên nhà mới, kết nghĩa anh em và cúng thần vào những dịp chẳng lành như ốm đau, tang ma, dịch bệnh, thiên tai…

Lễ hội độc đáo nhất của người Mạ là Du rê hay còn gọi là lễ ăn cơm mới mừng mùa, cầu mưa đặc trưng của cư dân nương rẫy Trường Sơn. Hàng năm, tùy theo khả năng kinh tế gia đình và mức độ thu hoạch của mùa màng mà bà con định ra quy mô hành lễ. Lễ nhỏ ở gia đình vật tế là heo, gà, dê. Lễ lớn ở mức cộng đồng có thể mổ trâu. Lễ thường tổ chức dịp cuối năm sau mùa thu hoạch. Có những vùng lấy việc mở đầu mùa gặt để hành lễ. Lễ được tổ chức lần lượt ở từng gia đình cho đến khi phát triển ở mức độ cả cộng đồng tham gia thi cũng vừa đón năm mới chuẩn bị bước vào chu kì sản xuất mới.

Thủ tục hành lễ nhất thiết phải mở rượu cần cúng Yàng. Gia chủ hoặc chủ lễ đứng trước ghè rượu ngửa mặt lên trời để cầu Yàng cho các loài giống sinh sống, phù hộ cho một bông  thành cả gùi lúa. Một gùi lúa, ngô được nở đầy nhà ngô,lúa. Xin Y àng mùa sau cho nhiều hơn và cầu sức khỏe cho gia đình. Sau khi khấn, bôi tiết vật nuôi và rượu lên nhà ở, nhà lúa và khách quý tới dự. Sau đó cả nhà cùng cộng đồng chuyền tai uống rượu cần, ca hát, nhảy múa thâu đêm suốt sáng rồi lại kéo sang nhà khác dự lễ. Khách ra về được chủ nhà tặng cho gói gạo mới.

người Mạ có một kho tàng văn học truyền miệng phong phú, đó là truyền thuyết về sự khai thiên lập đại gọi là yealian. người Mạ có câu ca dao, tục ngữ,truyện ngụ ngôn, truyện cười phản ánh về đời sống lao động hồn nhiên, về thời tiết, mùa vụ…Họ cũng có những điệu hát dân ca. Nhạc cụ của người Mạ gồm có bộ chiêng đồng 6 chiếc, trống lớn bịt da trâu, khèn bầu 6 ống, bè trên 4 ống, bè dưới 2 ống, tù và, đàn lồ ô 6 dây, sáo trúc 3 lỗ gắn vào vỏ trái bầu

Là cư dân bản địa, dân tộc Mạ đãbảotồn được bản sắc văn hóa dân tộc đồng thời đóng góp công sức to lớn vào công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước. Đặc biệt là sự tham gia các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Ngày nay vùng đất cư trú của đồng bào thực sự đã đổi mới theo con đường ấm no.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Gửi bình luận của bạn
x