Các tộc người

Một số nét về văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên

24-03-2017 - 11:35 - 236 lượt xem

Phong Phong

 

Sống trên vùng cao nguyên mênh mông, hùng vỹ, các dân tộc thiểu số Tây Nguyễn đã sáng tạo nên một nền văn hóa vật thể và phi vật thể khá toàn diện, phong phú, đa dạng, mang đậm bản sắc dân tộc. Cùng với sự phát triển của văn hóa hiện đại, Tây Nguyên đang là nơi lưu giữ những di sản văn hóa truyền thống có giá trị lịch sử của dân tộc, như nhà rông, nhà dài, đàn đá, tượng nhà mồ, các lễ hội và một kho tàng văn học dân gian với những bản trường ca, sử thi, truyện cổ, truyện ngụ ngôn, những làn điệu dân ca đậm đà bản sắc được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Một trong những di sản văn hóa nổi tiếng là không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã được UNESCO chính thức công nhận là kiệt tác truyền khẩu và văn hóa phi vật thể của nhân loại vào ngày 25/11/2005. Đây là di sản văn hóa phi vật thể thứ hai của Việt Nam được tôn vinh di sản văn hóa thế giới sau Nhã nhạc Cung Đình Huế. Bài viết xin nêu lên một số điểm độc đáo của không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.

Cồng chiêng Tây Nguyên có truyền thống văn hóa và lịch sử lâu đời, bắt nguồn từ nền văn minh Đông Sơn cổ đại, được biết đến với tư cách là nền văn hóa Trống Đồng nổi tiếng ở Đông Nam Á. Ngày nay, không gian văn hóa cồng chiêng trải rộng trên 05 tỉnh Tây Nguyên (Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng) và chủ nhân của loại hình văn hóa đặc sắc đậm đà bản sắc dân tộc này chính là các dân tộc thiểu số tại Tây Nguyên (Bân, Xêđăng, Mnông, Cơho, Êđê, Giarai…).

 Cồng chiêng là loại nhạc khí bằng hợp kim đồng, có thể pha vàng, bạc hoặc đồng đen; cồng là loại có núm, chiêng không có núm. Cồng chiêng có thể dùng đơn lẻ hoặc theo dàn, theo bộ từ 2 - 12 chiếc, cũng có bộ từ 18 - 20 chiếc như bộ chiêng của người   Giarai. Mỗi chiếc cồng, chiêng trong dàn hòa tấu đảm nhiệm chức năng riêng, trong đó chiêng mẹ (chiêng cái) là quan trọng nhất. Dàn cồng chiêng Tây Nguyên được tổ chức như một dàn nhạc có thể diễn tấu những bản nhạc đa âm sắc với các hình thức nhịp điệu khác nhau, trong đó có 03 phong cách lớn là cồng chiêng người Êđê với nhịp điệu phức hợp, tốc độ nhanh, cường độ lớn; cồng chiêng người Mnông có tốc độ nhanh nhưng cường độ không lớn; cồng chiêng người Banna, Giarai thiên về tính chất chủ điệu (một bè trầm của cồng có núm vang lên âm sắc vững chãi, hùng tráng, một bè giai điệu thánh thót của chiêng không có núm với âm sắc đanh gọn, lanh lót). Mỗi bản nhạc cồng chiêng thể hiện một sắc thái biểu cảm âm nhạc phù hợp với trạng thái tình cảm của con người trong mỗi nghi lễ: nhịp điệu chiêng tang lễ hay bỏ mả chậm rãi, man mác buồn; nhịp điệu chiêng mùa gặt thánh thót, vui tươi; nhịp điệu chiêng đâm trâu giục giã, rộn ràng… Mỗi dân tộc đều có những bản nhạc cồng chiêng riêng để diễn tả vẻ đẹp của thiên nhiên, khát vọng của con người. Người Giarai có các bài cồng chiêng Juan, Trum vang…; người Bana có các bài cồng chiêng Xa Trăng, Sakapo, Atâu, Tơrơi…

Hầu hết các nghệ nhân cồng chiêng ở Tây Nguyên là nam giới, kể cả người Êđê, Giarai (theo chế độ mẫu hệ) hay người Bana, Xơđăng (theo chế độ mẫu hệ lẫn phụ hệ). Riêng nhóm người Bih dân tộc Êđê (Đăk Nông) chỉ nữ giới mới được đánh cồng, người Mạ cả nam và nữ được đánh chiêng nhưng thường chia làm 2 dàn. Ngoài ra, ở nhiều dân tộc như Churu, Xơđăng, Mnông và đặc biệt là Giarai, Bana, các điệu múa của những phụ nữ là thành tố không thể thiếu trong việc diễn tấu, biểu diễn cồng chiêng. Điều đặc biệt, hầu hết các nghệ nhân cồng chiêng Tây Nguyên dẫu không qua trường lớp đào tạo vẫn thể hiện được những cách chơi cồng chiêng điêu luyện với nhịp điệu, âm hưởng tuyệt vời.

Cồng chiêng gắn bó mật thiết với cuộc sống núi rừng của người Tây Nguyên, không những có giá trị vật chất và nghệ thuật mà còn thể hiện tiếng nói của tâm linh, tâm hồn con người; là phương tiện giao thiệp giữa con người với thần linh; diễn tả niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống, trong lao động và sinh hoạt hằng ngày; là biểu hiện sự cố kết cộng đồng. Theo quan niệm của người Tây Nguyên, đằng sau mỗi chiếc cồng, chiêng đều ẩn chứa một vị thần; cồng chiêng càng cổ quyền lực của vị thần càng cao; khi tiếng cồng, chiêng vang lên, âm thanh khi ngân nga, sâu lắng, khi thôi thúc trầm hùng, hòa quyện với tiếng suối, tiếng gió và tiếng lòng con người, cũng chính là lúc trời đất giao quyện, con người có thể giao thiệp, gửi gắm tâm niệm cuộc sống đến với thần linh. Chính vì thế, cồng chiêng luôn được sử dụng trong các nghi lễ, lễ hội quan trọng của con người cũng như cộng động các dân tộc Tây Nguyên; từ lúc cất tiếng khóc chào đời, con người đã nghe tiếng chiêng chào đón (lễ thổ tai cho trẻ sơ sinh); khi lớn lên dựng vợ, gả chồng tiếng chiêng lại rộn ràng trong ngày vui hạnh phúc (đám cưới, đám hỏi); khi vĩnh biệt cõi đời đời, tiếng cồng chiêng cũng đưa linh hồn, thể xác về với trời đất (lễ bỏ mả).

Cồng chiêng đem niềm linh thiêng vào cuộc sống, khiến đồng bào Tây Nguyên cảm thấy được sống trong một không gian thanh cao, tâm linh và huyền ảo. Tiếng cồng chiêng Tây Nguyên hòa nhịp âm vang gợi cho người nghe như thấy được cả không gian săn bắn, không gian làm nương rẫy…; vào những ngày hội, những vòng người nhảy múa quanh ngọn lửa thiêng, bên những vò rượu cần trong tiếng cồng chiêng vang vọng núi rừng, tạo cho Tây Nguyên một không gian vừa lãng mạn, vừa huyền ảo; âm thanh cồng chiêng còn là chất men cuốn trai gái vào những điệu múa hào hứng của cả cộng đồng trong những ngày hội buôn làng. Nhịp hòa âm cồng chiêng vang vọng; không gian thiên nhiên hùng vỹ của núi rừng Tây Nguyên chính là nguồn gốc của những áng sử thi, thơ ca đậm chất Tây Nguyên đi vào lòng người như “Khan Đam San”, “ĐămDi”, “Khinh Dú”… của người Êđê; “Ot mrông”, “Cây nêu thần”, “Mùa rẫy bon” của người Mnông; “Chín chiêng”, “Zông” của người Giarai... 

Mặc dù mang giá trị nghệ thuật và trở thành nét văn hóa đặc trưng của cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên, tuy nhiên cùng với quá trình hội nhập về kinh tế, văn hóa, xã hội và phát triển về tín ngưỡng, tôn giáo, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên và hồn thiêng trong tiếng cồng chiêng đang đứng trước nguy cơ mai một theo thời gian, các bài nhạc cồng chiêng dần bị lãng quên theo năm tháng (người Mnông trước đây có 40 bản nhạc cồng chiêng nay các nghệ nhân chỉ nhớ, lưu truyền và trình diễn được 10 bản); nhiều nghệ nhân nắm giữ bí quyết về cồng chiêng và hiểu biết các nghi lễ truyền thống qua đời không kịp truyền lại cho thế hệ sau; thế hệ trẻ ít hoặc không quan tâm đến cồng chiêng do sức hút mạnh mẽ của cuộc sống hiện đại và văn hóa du nhập. Tại một số nơi, cồng chiêng không còn giữ được ý nghĩa nguyên bản và không gian văn hóa linh thiêng, trở thành những vật buôn bán, trao đổi, tái chế phục vụ mục đích khác. Đây là vấn đề cấp thiết, cần thiết phải có sự quan tâm của cộng đồng, của cơ quan chức năng.

Tuy nhiên, với những chính sách đúng đắn trong bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, chắc chắn không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên sẽ tiếp tục khẳng định giá trị trường tồn, đúc kết tạo nên nét văn hóa đặc sắc của dân tộc Việt Nam, xứng đáng là kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại./.

 

 

Gửi bình luận của bạn
x