Các tộc người

Người La Hủ ở Vân Nam Trung Quốc

26-05-2017 - 22:54 - 390 lượt xem

Biên dịch: Nguyễn Ngọc Điệp

 Người La Hủ ở Vân Nam-Trung Quốc có khoảng 45,3 vạn người ( thống kê năm 2007). La Hủ là một từ trong ngôn ngữ dân tộc, “ la” nghĩa là hổ, “ hủ” nghĩa là hương vị của thịt nướng. Vì vậy, trong lịch sử, còn gọi dân tộc này là “ Dân tộc săn hổ”.

1/ Giản lược :  Dân tộc La Hủ cùng nguồn gốc với người Di, Cáp Nê( Hà Nhì), Lật Túc, Nạp Tây, Cơ Nặc. Chủ yếu phân bố ở 2 vùng Lâm Thương và Tư Mao thuộc lưu vực sông Lan Thương ( Mê Công) tỉnh Vân Nam, cũng còn phân bố ở Châu tự trị dân tộc Thái- Xixoongbànna, Châu tự trị dân tộc Di, Cáp Nê- Hồng Hà ( đơn vị hành chính của tỉnh Vân Nam gồm 8 thành phố và 8 châu, như Thành phố Kôn Minh,Thành phố Khúc Tĩnh,Thành phố Ngọc Khê…Châu Hồng Hà-giáp với Lào Cai, Châu Xixoong bảnna, Châu Văn Sơn…) và vùng Ngọc Khê. Trong đó, nơi tập trung chủ yếu nhất là Huyện tự trị La Hủ -Lan Thương ( Huyện Lan Thương lấy tên đại diện là dân tộc La Hủ) và Huyện tự trị La Hủ, Thái -Mãnh Liên. Người La Hủ còn vượt biên giới thiên di sang cư trú ở các nước Myanma, Thái Lan, Việt Nam, Lào.

    Theo thống kê năm 2007 : Ở Myanma có 25 vạn; Thái Lan có 8,6 vạn; Lào có 1,6 vạn; Việt Nam có khoảng 7000 người, người La Hủ ở VN thực chất là người Khổ Thông (xem phần : Lịch sử thiên di). Người La Hủ có ngôn ngữ riêng thuộc chi Tạng Miến, Di ngữ thuộc ngữ hệ Hán Tạng, chia làm 2 loại chính là La Hủ Nạp (La Hủ đen) và La Hủ Tây ( La Hủ vàng).Trước đây, người La Hủ không có văn tự, đến đầu thế kỉ 20, các giáo sĩ truyền giáo phương Tây đã sáng tạo ra chữ La Hủ từ chữ cái Latinh, nhưng còn thiếu khoa học, khó quảng bá . Sau khi thành lập nước CHND Trung Hoa, đã có văn tự phiên âm mới ngày nay. Kinh tế , người La Hủ chủ yếu làm nông nghiệp, với lúa nước, ngô, kê, ngoài ra, còn biết sản xuất chè, đường, khai khoáng. Người La Hủ có lịch sử lâu đời, tiền thân là hệ tộc người Khương cổ đại từ Thanh Hải, Cam Túc dần thiên di xuống phía nam, rồi tiến vào và định cư ở Vân Nam .

  2/ Lịch sử thiên di : Nguồn gốc người La Hủ là người Cổ Khương ở tỉnh Cam Túc, Thanh Hải, sau đó không ngừng thiên di xuống phía nam, đến thời Chiến Quốc đã sinh sống trong tỉnh Vân Nam. Căn cứ vào phân tích phát hiện khảo cổ, La Hủ thời Chiến Quốc đã thoát li khỏi xã hội nguyên thủy, nam nữ tết tóc thành bím, mặc áo dài đến đầu gối, làm nghề nông và chăn nuôi gia súc, nhưng săn bắt vẫn là chủ yếu.Từ thời Tam Quốc, Lưỡng Tấn đến thời Nhà Đường, người La Hủ, người Di cùng trong tập đoàn “ Ôman”, tập đoàn Ôman hình thành từ quan hệ chinh phục và bị chinh phục. Bộ lạc La Hủ lấy hình thức cống nạp, phụ thuộc vào bộ lạc Di, tính chất xã hội là chế độ nô lệ. Chế độ thống trị là chế độ quỷ chủ “ chính giáo hợp nhất”, thủ lĩnh bộ lạc là quỷ vương, thủ lĩnh bộ lạc chủ là đại quỷ vương, thủ lĩnh bộ lạc phụ thuộc là tiểu quỷ vương. Căn cứ vào thế lực lớn nhỏ, mạnh yếu, mà các quỷ vương chế ước lẫn nhau.Từ thời Lưỡng Tấn, Minh, Thanh, bộ lạc La Hủ

trước sau vẫn dùng hình thức cống nạp lệ thuộc bộ lạc chủ Di, nước Nam Chiếu, nước Đại Lý và các thổ ti người Thái. Người La Hủ cũng không ngừng triển khai các hoạt động quân sự tổ chức cướp phá ra bên ngoài, khi hoạt động quân sự thất bại, sẽ tổ chức dân di cư rời quê hương bản xứ. Bắt đầu từ thời Đường, cuộc thiên di của người La Hủ diễn ra không ngừng, cho đến cuối nhà Tống, ít nhất người La Hủ đã 3 lần thiên di với quy mô lớn. Cho đến đời nhà Thanh, người La Hủ cơ bản định cư phân bố như ngày nay, nhưng vẫn có một bộ phận tiếp tục thiên di đến tận Miến Điện, Thái Lan, Việt Nam, Lào. Trong qúa trình thiên di, người La Hủ đã hình thành nên 2 bộ phận đông và tây, lấy sông Lan Thương ( Mê Kông) làm phân giới, đồng thời cũng sản sinh ra tình trạng phát triển lịch sử khác nhau giữa 2 vùng đông và tây này. Người La Hủ ở phía đông Lan Thương từ đời Nguyên, Minh đến sau này phụ thuộc vào thổ ti người Thái, thể chế kinh tế là nền kinh tế lãnh chúa phong kiến. Năm 1724, Chính phủ nhà Thanh thực hiện chính sách ruộng đất mới, một bộ phận người La Hủ từng bước từ kinh tế lãnh chúa quá độ lên kinh tế địa chủ. Người La Hủ ở phía tây Lan Thương, cũng với hình thức cống nạp, phụ thuộc vào thổ ty người Thái địa phương, qua các triều đại Minh, Thanh, nền kinh tế xã hội có những bước phát triển mới, công xã đại gia đình song hệ tồn tại lâu dài trong lịch sử đã bắt đầu bị phá vỡ, nền sản xuất cá thể bước đầu chiếm địa vị chủ đạo. Dưới ảnh hưởng của nền kinh tế lãnh chúa người Thái, xã hội tộc La Hủ cũng sản sinh ra mầm mống của chủ nghĩa phong kiến. Trung kì nhà Thanh, thế lực phong kiến La Hủ càng ngày càng thịnh, trở thành lực lượng đối kháng với thổ ty người Thái. Để đạt được mục đích cám dỗ, nhà Thanh đã ủy nhiệm cho các thủ lĩnh La Hủ làm thổ đô ty, sự phát triển của chế độ thổ ty đã đẩy nhanh sự phát triển của nền kinh tế lãnh chúa phong kiến La Hủ. Vì vậy, dưới ảnh hưởng của nền kinh tế địa chủ cận đại Vân Nam và nền kinh tế thương mại , nền kinh tế lãnh chúa phong kiến còn chưa phát triển chín mùi đã từng bước giải thể, trở thành nền kinh tế địa chủ.

  Tóm lại, trước khi nước CHNDTrung Hoa ra đời, xã hội La Hủ phát triển rất không đều, tổng thể có thể chia thành 2 khu vực. Một là, Người La Hủ ở phía đông bắc huyện Lan Thương, Lâm Thương, Song Giang, Cảnh Cốc, Trấn Nguyên, Nguyên Giang, Hắc Giang đã thuộc giai đoạn kinh tế địa chủ phong kiến, trình độ sản xuất xấp xỉ với người Hán, người Thái địa phương. Hai là, Người La Hủ vùng tây nam huyện Lan Thương, Mãnh Liên, Tây Minh, Cảnh Mã, Thương Nguyên và vùng Xi xoong bản na, do nguyên nhân lịch sử bị đặt vào thể chế kinh tế lãnh chúa người Thái, trình độ sản xuất rất thấp, còn mang tàn dư sâu đậm của nền kinh tế nguyên thủy. Người La Hủ ở vùng này chủ yếu làm nông nghiệp, chăn nuôi gia súc, nuôi ong. Ngoài ra, trong vùng rừng rậm dài khoảng 300 km, rộng chừng 40 km của huyện Kim Bình vẫn còn một chi của người La Hủ là “ người Khổ Thông”, tính chất xã hội còn thuộc vào giai đoạn xã hội nguyên thủy.

  Sau khi nước CHNDTH ra đời, người La Hủ có những thay đổi to lớn. Ngày 7/4/1953, thành lập Huyện tự trị dân tộc La Hủ- Lan Thương ( Huyện Lan Thương, lấy tên dân tộc La Hủ làm đại diện), ngày 16/6/1954 thành lập Huyện tự trị dân tộc Ngõa, La Hủ, Thái- Mãnh Liên( Huyện Mãnh Liên).

 3/ Hôn nhân:

-         Hôn nhân. Người La Hủ thực hiện chế độ 1 vợ, 1 chồng. Nói chung, nam nũ thanh niên tuổi 15-16 đã bắt đầu tham gia hoạt động xã hội, trong các ngày lễ, hội, mừng thọ, là dịp nam nữ tìm hiểu nhau. Nam , nữ không cùng thị tộc, chỉ cần tuổi tác gần nhau, hai bên tâm đầu ý hợp là có thể kết hôn. Việc tìm hiểu rất tự do, mỗi khi đêm đến, trong các nhà bỏ không trên cánh đồng hoặc trong thôn trại, họ vây quanh đống lửa, thổi đàn môi, để biểu thị tình yêu. Sau khi hai bên đã ăn ý, bên trai mời người làm mối, mang 2-4 đôi sóc khô, một cân rượu đến nhà gái cầu hôn, nếu bố mẹ nhà gái đồng ý, thì nhà trai dẫn lễ đến nhà gái bàn phương thức thành hôn và định ngày cưới. Nếu họ ở nhà chồng, trong ngày lễ, nhà trai mời thân nhân bạn bè và cử người ( gồm cả chú rể) đi đón cô dâu, nhà gái cử người đưa cô dâu về nhà chồng.Nếu họ ở lại nhà gái, bên nhà gái sẽ chuẩn bị rượu mời khách, chú rể cùng người làm mối dẫn đến nhà cô dâu tổ chức cưới. Sau đó , chú rể ở hẳn nhà cô dâu từ 1-5 năm, cũng có khi ở lâu dài. Chú rể ở nhà gái lao động sản xuất, không bị kì thị, được hưởng sự đối sử như con đẻ. Khi thời gian ở nhà gái đã hết, chú rể mời bạn bè đến uống rượu, sau khi vợ chồng cám ơn gia đình nhà gái, chú rể có thể dẫn vợ về nhà mình, cũng có thể dựng nhà mới trong thôn trại của vợ. Li hôn rất ít xảy ra. Sau khi bố mẹ đồng ý cho yêu nhau, nếu bên nào lật lọng đều bị phạt tiền 33 lạng bạc cho đối phương, phổ thông ngày nay thay bằng tiền Nhân Dân tệ, người nào đề ra li hôn, cũng bị phạt tiền như trên. Chồng chết, vợ có thể tái giá, nếu có con lớn thì theo bố, con nhỏ theo mẹ, người chồng mới phải chịu một phần chi phí.

4/ Gia đình. Gia đình là đơn vị cơ bản tạo thành thôn xóm, các gia đình tạo thành từ phụ hệ huyết thống 2,3 đời hoặc ngoại hôn. Người bố là trưởng gia đình, bố chết, con trai trưởng làm trưởng gia đình. Anh cả chết , em trai kế thay thế, nhà không có con trai, con rể trưởng có thể làm trưởng gia đình.

Chức trách của trưởng gia đình là phụng thờ tổ tiên, sắp xếp điều hành lao động sản xuất, thay mặt gia đình trong các hoạt động thôn xóm. Người một nhà chỉ cúng một đời.

5/ An táng. Sau khi chết, thi thể người chết được đặt cạnh bếp lửa ở bên phải gian chính, đầu hướng vào trong, chân hướng ra ngoài, trước linh cữu đặt một bát cơm, một đôi đũa, một con gà luộc, phụ nữ khóc trực bên linh cữu, do một người khóc làm xướng, ca ngợi công đức của người chết.Sau 1 ngày hoặc vài ngày, đến giờ tốt đã định để đưa tang, gia đình bắn súng báo hiệu để mọi người đến chia buồn. Người đến chia buồn đều mang gà , rượu đến làm vật lễ, dùng gậy gỗ đánh chết, sau khi chôn cất, đặt lễ trước mộ cúng, trừ người già ra, không ai được ăn vật cúng lễ. Quan tài có 2 loại, một là dùng chiếu tre quấn quanh người chết, hai là quan tài phổ thông, mộ đặt gần nhà, chỉ ném một quả trứng, nơi trứng vỡ là nơi đặt mộ, lúc an táng, đầu lớn của quan tài  hướng về tây, mộ được đắp đất cao, không có bia mộ, trước mộ đặt 1,2 tên nỏ, 1 cái sọt mà người chết sinh thời dùng. Một số trường hợp người chết là con trai thành niên, sau khi chôn cất xong, người nhà đem đốt nhà cũ, làm lại nhà mới ở nơi khác.

7/ Kiêng kị : Con dâu không được tùy tiện vào phòng bố chồng, anh chồng, con dâu, em dâu không được ngồi ăn cơm cùng mâm với bố chồng và anh chồng, trước các bậc trưởng lão, con gái  không được bỏ khăn trùm đầu, không được để tóc rối. Ngựa có hoa văn được coi là thần ngựa, con rắn cụt đuôi được coi là rồng, chim cuốc được coi là gà trời, những con vật trên không ai được sát hại. Khi giết gà, lợn nhất định phải xem quẻ, mắt con gà mà sáng, con lợn mật nhiều, là quẻ cát, làm việc gì cũng trôi chảy, ngược lại là quẻ hung, làm việc gì cũng phải cận thận.

8 / Kinh tế, xã hội: Đa số người La Hủ sau những năm thứ 50 của thế kỉ trước mới ra khỏi rừng rậm để định cư. Hai huyện Kim Bình, Lục Xuân có điều kiện tự nhiên khác nhau, dẫn đến sự phát triển kinh tế xã hội cũng khác nhau. Huyện Lục Xuân người La Hủ định cư tương đối sớm, gần trang trại của người Cáp Nê, nên chịu ảnh hưởng của người Cáp Nê từ ngôn ngữ, phục trang, tập tục rất gần với người Cáp Nê. Người La Hủ huyện Kim Bình chiếm 70 % người La Hủ toàn châu, đại bộ phận định cư muộn. Trước khi rời nơi rừng rậm, họ sống cuộc sống du cư, săn bắn, nội bộ không giai cấp, không phân chia người giàu kẻ nghèo, quan hệ giữa người với người là bình đẳng. Theo điều tra, 22% số hộ sống trong rừng rậm nguyên thủy, 53% sống ở lề rừng, 25% sống ở vùng bán sơn địa, nhưng đều là các thôn xóm phụ hệ, quan hệ huyết thống. Thôn trại nhỏ, phân tán, nói chung 3-5 hộ thành một thôn, thôn trại không cố định, nhà ở giản đơn, thấp và chật, lấy cây gỗ làm cột, tre và cành cây làm tường, lá tre, lá chuối, cỏ tranh làm mái, một bộ phận người và gia súc ở chung. Họ sống không chăn, trải giường làm từ cỏ, lá cây, quần áo rất ít, nếu có thì là do họ đem vật đi săn bắt được trao đổi với người Cáp Nê, dành cho người già và trẻ em, phần nhiều dùng da thú. Khi mùa đông giá rét đến, họ dựa vào bếp lửa. Lửa chiếm địa vị đặc biệt, không những để sưởi ấm, nướng luộc, thổi cơm, thắp sáng mà còn là sức sản xuất to lớn trong việc đốt rừng trồng rẫy.Việc giữ lửa là chuyện thần kì, công việc giữ lửa do các bậc cao niên đảm nhiệm, dù đi đâu, làm gì cũng phải gìn giữ nguồn lửa,  một khi nguồn lửa bị mất, chỉ còn dùng phương pháp lấy lửa nguyên thủy, Rừng đất đai tài nguyên thiên nhiên là công hữu của thôn trại, bất kì cá nhân nào cũng có thể cư trú, trồng cây, săn bắt.

 9 / Các ngày lễ tết.  Người La Hủ có nhiều ngày tết như: tết xuân, tết tháp, tết đoan ngọ, tết mùa màng, tết đuốc, tết gạo mới, tết thờ tổ, tết bắc cầu, tết hồ lô ( quả bầu nậm)...

 + Tết Xuân : cũng là tết mừng năm mới, thời gian từ 1-9 tháng giêng âm lịch, cơ bản trùng với thời gian tết âm lịch của người Hán. Nhưng người La Hủ phân chia thành tết đại niên và tết tiểu niên, đại niên chỉ năm âm lịch mà tháng chạp có 30 ngày, tiểu niên là năm âm lịch tháng chạp thiếu.Tết đại niên từ 1-5 tháng giêng, cũng gọi là tết con gái. Tết tiểu niên từ 7-9 tháng giêng, cũng gọi là tết con trai. Sở dĩ có tên gọi tết con trai và tết con gái là theo truyền thuyết dân gian sau : Người La Hủ cổ đại thường bị các tộc ngoại xâm lăng, để đánh trả kẻ thù, bảo vệ quê hương, có một lần đàn ông đi chiến đấu ở phương xa, khi thắng trận trở về thì tết đã qua, vì để mừng chiến thắng và bù đắp, an ủi cho những người đàn ông bị mất tết, nên mọi người tổ chức ăn tết lần nữa, vì vậy mà có tết con trai, tết con trai tồn tại cho đến tận bây giờ.

+ Lễ đón nước mới và vũ hội khèn : lễ này được tổ chức rất tưng bừn, ngày đầu tiên của năm mới tức mồng một tháng giêng, lúc gà gáy sáng, nhà nhà đều cử người mang ống bương, hồ lô ra suối lấy nước mới, đây là công việc đại sự vì nước mới là biểu tượng cho sự thanh khiết, mang lại may mắn cho mọi nhà, nước mới lấy về , đầu tiên là dùng để cúng tổ tiên, sau là giành cho người già rửa mặt.

  Theo phong tục của người La Hủ, ngày mồng một tết, cấm kị người ngoài vào thôn trại, ngày mồng 2 mới đi thăm nhau. Buổi tối không còn cảnh vui nhộn rộn ràng nữa, trên các sườn núi vụt sáng các đốm lửa, từng đôi nam nữ quanh các đống củi đỏ lửa tỏ tình yêu thương, chìm trong sung sướng và hạnh phúc.

+ Tết lửa trại : đậm đà tình cảm, lấy gỗ tùng làm nhiên liệu, khi cháy thoảng mùi thơm và tỏa sáng xa, nam nữ mặc những bộ quần áo đẹp nhất, nhảy múa, hát ca quanh đống lửa tùng.

10/ Phục trang: Thời cổ, nam nữ mặc áo dài. Thời cận đại, nam phổ biến áo ngắn không cổ màu đen, áo trong nhạt hoặc trắng, quần dài ống to, đầu quấn khăn dài hoặc đội mũ hình quả dưa. Nữ các vùng khác nhau, chủ yếu có 2 loại, một là đầu quấn khăn dài, áo dài vạt to, hai bên áo xẻ vạt rất cao, có điểm các bóng bạc, quần dài; hai là, theo trang phục điển hình của các dân tộc phương nam, áo ngắn cổ hẹp, mặc váy, dùng vải đen bọc chân, đầu quấn khăn nhiều màu.

 

 

 

Gửi bình luận của bạn
x