Chính sách dân tộc

Giảm thiểu Tảo hôn và Hôn nhân cận huyết thống

05-05-2016 - 14:17 - 10581 lượt xem

Vùng dân tộc, miền núi tỷ lệ Tảo hôn và Hôn nhân cận huyết thống còn cao, đây là nguyên nhân suy giảm chất lượng dân số

Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2015-2025

     Ngày 14 tháng 4 năm 2015 Thủ tướng chính phủ ban hành Quyết định số 498/ QĐ-TTg phê duyệt đề án giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2015-2025.

 Đây là một chính sách thể hiện quyết tâm của Đảng và Nhà nước Việt nam trong việc nâng cao chất lượng dân số, đảm bảo quyền phát triển của đồng bào các dân tộc thiểu số Việt Nam.

 Nhận thức đầy đủ thực trạng, nguy cơ suy giảm chất lượng dân số do tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống gây ra, để bàn các giải pháp triển khai có hiệu quả Quyết định của thủ tướng Chính phủ là một nhiệm vụ rất cấp thiết.

 I. THỰC TRẠNG TẢO HÔN VÀ HÔN NHÂN CẬN HUYẾT THỐNG TRONG VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ

    Tảo hôn là hiện tượng kết hôn của hai người nam và nữ khi họ chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật.

    Hôn nhân cận huyết thống là hình thức hôn nhân giữa người nam và người nữ có cùng dòng máu trực hệ.

 Tình trạng tảo hôn đã ảnh hưởng đến thể chất, tâm sinh lý nhất là các em gái; khi chưa đủ tuổi trưởng thành, cơ thể chưa phát triển hoàn thiện, việc quan hệ tình dục sớm, mang thai, sinh đẻ, nuôi con sớm làm chậm quá trình phát triển thể chất tự nhiên của con người, dẫn tới thoái hóa và các di chứng bệnh tật, làm suy kiệt sức khỏe cả bố, mẹ và con cháu.

  Hôn nhân cận huyết thống đã tạo ra các gen bệnh như : Bạch tạng, mù màu, da vảy cá, đặc biệt phổ biến là bệnh tan máu bẩm sinh, y học gọi là bệnh Thalasamia. Những căn bệnh này làm suy kiệt sức khỏe, dẫn tới suy thoái nòi giống của cả một dòng họ, một dân tộc.

  Nhận thức được tác hại của Tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống, Đảng và nhà nước Việt nam, các ngành, các cấp, các địa phương đã có nhiều chủ trương chính sách tiến hành vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện các giải pháp đồng bộ nhằm thực hiện chiến lược nâng cao sức khỏe, tầm vóc người Việt nam. Nhờ vậy, trong những năm gần đây, tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống nhìn chung có giảm trên quy mô toàn quốc. Tuy vậy ở vùng nông thôn miền núi, nơi có đông đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống.tình trạng này vẫn còn khá nặng nề.

 Vùng Trung du miền núi phía Bắc và Tây Nguyên có tỷ lệ tảo hôn cao hơn so với các vùng khác. Trong độ tuổi 10-17, cứ 10 em trai thì có 1 em có vợ, 5 em gái có 1 em có chồng.

    Các tỉnh có tỷ lệ tảo hôn cao nhất trong cả nước như: Lai Châu, Hà Giang, Điện Biên, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, Cao Bằng, Bắc Cạn, Kon Tum, Gia Lai, trong đó tỉnh Lai Châu có tỷ lệ tảo hôn cao nhất 18,6%

     Các dân tộc thiểu số có tỷ lệ tảo hôn chung là 26,6 %, cao gấp 18 lần so với dân tộc Kinh (1,4%) và gấp 10 lần so với tỷ lệ chung của cả nước (2,5%);

     Có 25/53 dân tộc thiểu số có tỷ lệ tảo hôn trên 10%. Dân tộc Ơ Đu cao nhất là 70,2%, Dân tộc Mông 59,7%, Xinh mun 56,3%

Theo thống kê của cuộc điều tra 53 dân tộc thiểu số năm 2015 thì tỷ lệ hôn nhân cận huyết thống cao nhất là Dân tộc Mạ 44,1%, Mảng 43,6%, Mnong 40,2%, Xtieng 36,7%,  Cơ Tu 27,7%, Khơ Mú 25%, Cơ ho 17,8%, Chứt 16,8%, Kháng 16%, Khmer 15,9%.

  Hôn nhân cận huyết thống xảy ra chủ yếu ở miền núi phía Bắc và Tây Nguyên: Tại tỉnh Lai Châu, từ năm 2004-2011 có trên 200 đôi; ở Lào Cai có 224 đôi; theo Chi cục Dân số và Kế hoạch hóa gia đình tỉnh Cao Bằng, hôn nhân cận huyết thống ở Cao Bằng diễn ra nhiều nhất đối với dân tộc Dao 64% và Mông 61%; Tỉnh Hòa Bình: khảo sát tại huyện Kim Bôi, nơi có 90% dân số là người Mường, có tới 23% dân số trong huyện mang gen bệnh tan máu bẩm sinh (Thalassemia)[1];   Ở bản Rào tre, xã hương Liên,Huyện Hương Khê, Tỉnh Hà Tĩnh, hôn cận huyết thống diễn ra phổ biến, trầm trọng  toàn bộ 35 hộ người dân tộc Chứt; Tỉnh Kon Tum: Năm 2012, qua khảo sát tại 6 xã thuộc 3 huyện Sa Thầy, Ngọc Hồi và Kon Plông  đã phát hiện 56 cặp hôn nhân cận huyết thống và 350 cặp tảo hôn.

 có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống, bao gồm cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan, trong đó, nguyên nhân chủ quan là nguyên nhân cơ bản nhất. 

    Về nguyên nhân khách quan

* Do ảnh hưởng của những quan niệm, thành kiến, phong tục tập 
quán lạc hậu

Phong tục, tập quán của các dân tộc thiểu số tồn tại và ăn sâu trong nhận thức của người dân từ nhiều đời nay và ảnh hưởng, chi phối mạnh mẽ trong đời sống, sinh hoạt của phần lớn đồng bào các dân tộc thiểu số. Đối với đồng bào dân tộc thiểu số, việc kết hôn chủ yếu được thực hiện theo phong tục, tập quán; việc lấy vợ, lấy chồng mà chỉ cần sự đồng ý của những người đứng đầu trong làng hoặc của cha mẹ hai bên nam nữ và sự chứng kiến của gia đình, họ hàng, làng xóm. Quan niệm cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy; quan niệm kết hôn trong họ tộc để lưu giữ tài sản trong gia đình không mang của cải sang họ khác hay như tục lệ bắt vợ , tục “nối dây”, cưỡng ép hôn nhân.

* Do những bất cập, hạn chế trong các quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và các quy định pháp luật liên quan

Nhiều quy định áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đối với các dân tộc thiểu số còn chung chung, thiếu tính khả thi và chậm được hướng dẫn thi hành; công quản lý, thực thi pháp luật về hôn nhân và gia đình còn nhiều bất cập. Tình trạng lơi lỏng pháp luật, thực thi pháp luật chưa kiên quyết trong quản lý đăng ký kết hôn ở vùng miền núi dân tộc còn lỏng lẻo; các chế tài xử phạt vi phạm trong hôn nhân chưa đủ mạnh để ngăn ngừa, răn đe tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết trong vùng dân tộc thiểu số.

- Về tuổi kết hôn: Khi được tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình, bà con hiểu quy định của pháp luật về tuổi kết hôn, nhưng do phong tục, tập quán đã đi vào cuộc sống của người dân từ rất lâu đời, các gia đình thường dựng vợ gả chồng cho con từ rất sớm (15 - 16 tuổi thậm chí từ 14 tuổi). Vì chưa đủ tuổi theo luật định, nên việc kết hôn không được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhưng hai bên gia đình vẫn tổ chức đám cưới theo phong tục; họ hàng hai bên, cộng đồng dân cư của cả bản vẫn mặc nhiên công nhận đó là một cặp vợ chồng.

- Về áp dụng tập quán trong hôn nhân và gia đình: Điều 6 của Luật hôn nhân và gia đình, quy định nguyên tắc: “Trong quan hệ hôn nhân và gia đình, những phong tục, tập quán thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc mà không trái với những nguyên tắc quy định tại Luật thì được tôn trọng và phát huy”. Tuy nhiên, qua tổng kết thi hành Luật hôn nhân và gia đình cho thấy những quy định này tính khả thi còn thấp, vì chỉ mới thể hiện được thái độ tôn trọng của nhà nước đối với phong tục, tập quán mà chưa thực sự tạo căn cứ pháp lý rõ ràng và đầy đủ để các cơ quan có liên quan áp dụng tập quán trong giải quyết các vụ việc về hôn nhân và gia đình. Về điều kiện để áp dụng tập quán quy định  không cụ thể, rất khó có sự thống nhất trong áp dụng.

- Về các trường hợp cấm kết hôn, hủy kết hôn trái pháp luật: Quy định về cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ, giữa những người có họ trong phạm vi ba đời không có tính khả thi khi áp dụng tại các vùng dân tộc thiểu số.

- Quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính đối với các hành vi tảo hôn, tổ chức tảo hôn; hành vi vi phạm quy định về cấm kết hôn, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng chưa được thực hiện nghiêm túc và thiếu tính khả thi ở vùng dân tộc thiểu số.

* Do tác động, ảnh hưởng của những mặt trái của cơ chế thị trường

Trong nền kinh tế thị trường, con người dần biến đổi để thích nghi được với những điều kiện mới. Họ trở nên năng động, sáng tạo, linh hoạt và độc lập hơn trong cách nghĩ cách làm. Quan điểm đời sống của họ cũng trở nên cởi mở hơn, đơn giản hơn, không bị gò bó bởi quan niệm thành kiến đạo đức xưa. Vì vậy, con người dễ dàng thiết lập các mối quan hệ với nhau. Một trong những hệ lụy đó là việc chung sống như vợ chồng giữa nam và nữ trở nên hết sức bình thường và làm gia tăng tỉ lệ mang thai sớm dẫn đến tăng tỉ suất sinh con vị thành niên (từ 99%0 năm 2011 lên 116%0 năm 2013 ở nhóm 15-18 tuổi của phụ nữ dân tộc tộc thiểu số[2]). Đây cũng là nguyên nhân khách quan làm gia tăng tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống ở vùng dân tộc thiểu số.

  Về nguyên nhân chủ quan

* Do trình độ dân trí và ý thức pháp luật của người dân còn hạn chế

Tuy đã đạt được những thành tựu nhất định về phổ cập giáo tiểu học, nhưng đối với vùng dân tộc thiểu số, nhất là ở vùng đặc biệt khó khăn vẫn đang gặp phải các thách thức lớn về chất lượng giáo dục và bất bình đẳng trong tiếp cận giáo dục giữa nhóm dân tộc thiểu số với dân tộc đa số, giữa nông thôn và thành thị và giữa các vùng, miền.

Tình trạng học sinh bỏ học vẫn tái diễn, Tỉ lệ biết chữ ở nhóm dân tộc thiểu số từ 10 tuổi trở lên ở mức thấp và có sự chênh lệch lớn so với nhóm dân tộc Kinh (83,8% so với 96,8% năm 2012). Ở nhóm tuổi 15-24, chỉ có 82,3% phụ nữ dân tộc thiểu số biết đọc biết viết (tỷ lệ chung là 96,4%), nghĩa là cứ 5 phụ nữ dân tộc thiểu số ở nhóm tuổi 15-24 thì có 1 người  không biết đọc biết viết; Thực tế cho thấy, đối với đồng bào dân tộc thiểu số do trình độ dân trí thấp, nhận thức và ý thức pháp luật còn nhiều hạn chế đã tác động làm gia tăng tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết, nhất là đối với nhóm phụ nữ dân tộc thiểu số.

* Công tác tuyên truyền còn bất cập, hạn chế và hiệu quả chưa cao

Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về hôn nhân và gia đình đã được chính quyền địa phương, các tổ chức xã hội, các cơ quan bảo vệ pháp luật quan tâm,  nhưng một bộ phận người dân, nhất là người đồng bào dân tộc thiểu số vẫn chưa nhận thức hoặc chưa nắm vững về chế độ hôn nhân và gia đình, quyền và nghĩa vụ cũng như các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình.Vì vậy, phần lớn trường hợp tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống đều rơi vào các hộ nghèo, đối tượng vị thành niên, thanh niên thất học, hiểu biết pháp luật hạn chế và việc tiếp cận với các phương tiện thông tin đại chúng còn khó khăn.

* Sự can thiệp từ phía chính quyền địa phương đối với các trường hợp tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống còn chưa mạnh mẽ, thiếu kiên quyết

Việc loại bỏ những phong tục tập quán lạc hậu nói chung, loại bỏ tục tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống nói riêng ra khỏi đời sống xã hội  không đạt được hiệu quả cao do sự can thiệp thiếu mạnh mẽ, thiếu kiên quyết từ phía cơ quan địa phương, thực tế cho thấy, không chỉ những người dân mà cả gia đình cán bộ, Đảng viên là lãnh đạo xã, phường cũng tiếp tay, thậm chí tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống còn diễn ra ngay trong gia đình của những người cán bộ này. 

  II. NỘI DUNG CHÍNH CỦA ĐỀ ÁN

 !- Mục tiêu của đề án . Mục tiêu chung là phấn đấu đến năm 2025 cơ bản ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng dân tộc thiểu số, góp phần nâng cao chất lượng dân số và nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu số.

   Mục tiêu cụ thể là :

- Nâng cao nhận thức và ý thức pháp luật, chuyển đổi hành vi trong hôn nhân của đồng bào dân tộc thiểu số góp phần giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng dân tộc thiểu số.

- Trên 90% cán bộ công tác dân tộc các cấp, cán bộ văn hóa - xã hội xã được tập huấn nâng cao năng lực, kỹ năng vận động, tư vấn, truyền thông thay đổi hành vi về tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng dân tộc thiểu số vào năm 2025.

- Giảm bình quân 2%-3%/năm số cặp tảo hôn và 3%-5%/năm số cặp kết hôn cận huyết thống đối với các địa bàn, dân tộc thiểu số có tỷ lệ tảo hôn, kết hôn cận huyết thống cao. Đến năm 2025, phấn đấu ngăn chặn, hạn chế tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng dân tộc thiểu số.

  2-. Phạm vi thực hiện Đề án

Vùng dân tộc thiểu số, chú trọng khu vực miền núi phía Bắc, Bắc Trung bộ - Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên và Tây Nam bộ.

  3-. Nhiệm vụ và giải pháp thực hiện Đề án

a) Biên soạn, cung cấp tài liệu, sản phẩm truyền thông; tài liệu tập huấn về kiến thức, kỹ năng truyền thông, vận động, tư vấn pháp luật liên quan về hôn nhân và gia đình trong vùng dân tộc thiểu số. Đổi mới nội dung, đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, vận động, thay đổi hành vi của đồng bào dân tộc thiểu số về tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống.

b) Tổ chức các hội nghị, hội thảo, tọa đàm, giao lưu văn hóa, lễ hội nhằm tuyên truyền hạn chế tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng dân tộc thiểu số.

c) Tăng cường các hoạt động tư vấn, can thiệp, nghiên cứu, ứng dụng, triển khai nhân rộng các mô hình, bài học kinh nghiệm trong và ngoài nước phù hợp nhằm thay đổi hành vi, tăng cường khả năng tiếp cận thông tin và huy động sự tham gia của cộng đồng nhằm thực hiện ngăn ngừa, giảm thiểu tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng dân tộc thiểu số.

d) Nâng cao năng lực về chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, công chức làm công tác dân tộc tham gia thực hiện Đề án.

đ) Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ, các tổ chức chính trị - xã hội, già làng, trưởng bản, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số tham gia tuyên truyền, vận động đồng bào xóa bỏ những hủ tục lạc hậu và phòng, chống tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống.

e. Tăng cường hợp tác quốc tế, huy động nguồn viện trợ và các nguồn tài chính hợp pháp khác để thực hiện Đề án.

 Kinh phí thực hiện Đề án do ngân sách nhà nước bảo đảm theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước hiện hành, nguồn kinh phí viện trợ, hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.

 III- Các giải pháp để triển khai thực hiện đề án

  Để thực hiện nghiêm túc và triển khai có hiệu quả quyết định của Thủ tướng chính phủ, cần phải tiến hành đồng bộ các giải pháp:

  1-Tuyên truyền sâu rộng nội dung của Đề án trong các tầng lớp nhân dân bằng nhiều hình thức : Qua các phương tiện thông tin đại chúng; các lớp tập huấn; bồi dưỡng báo cáo viên, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số

  2- Lồng ghép nội dung giảm thiểu Tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống vào trong quá trình xây dựng và triển khai các chính sách, nhất là các chính sách văn hóa, xã hội, coi nhiệm vụ giảm thiểu tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống là một mục tiêu quan trọng của nâng cao chất lượng dân số, nguồn nhân lực cho sự phát triển bền vững của dân tộc, là một tiêu chí của phong trào thi đua yêu nước, là một tiêu chí đánh giá việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị của các tổ chức trong hệ thống chính trị.

   3- Tiến hành xây dựng các mô hình cấp thôn, bản, cấp xã về giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống, hàng năm sơ kết, đánh giá, rút kinh nghiệm và nhân rộng mô hình.

 



[1] Việt Nam là nước có tỷ lệ người mắc bệnh Thalassemia cao, với các thể α Thal, β Thal và HbE. Tỷ lệ mắc bệnh cũng rất khác nhau giữa các dân tộc: ở người Ê đê và Khơme thì tỉ lệ HbE cao tới khoảng 40%; ở các dân tộc thiểu số Mường, Thái, Tày cũng cao tới 10 - 25%, còn ở người Kinh tỉ lệ này từ 2 - 4% .

Năm 2009, Tổng cục DS&KHHGĐ phối hợp với Bệnh viện Nhi TW tiến hành khảo sát, lấy máu xét nghiệm trong nhân dân của 3 xã Vĩnh Đồng, Đú Sáng, Nam Thượng của huyện Kim Bôi, Hòa Bình cho kết quả về tỷ lệ mang gen bệnh Thalassemia tương ứng là 27,7% (khoảng 1.200 người), 24% và 18%.

[2] TCTK: Kết quả điều tra đánh giá mục tiêu về trẻ em và phụ nữ (MICS4 và MICS5).

 

Gửi bình luận của bạn
x