Chính sách dân tộc

Thách thức và con đường phát triển của vùng Dân tộc, miền núi trong quá trình Hội nhập

13-05-2016 - 15:32 - 1142 lượt xem

THÁCH THỨC VÀ CON ĐƯỜNG

THÁCH THỨC VÀ CON ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN ĐỐI VỚI

VÙNG DÂN TỘC - MIỀN NÚI TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ

 

                                         PA VỆ SỦ                                                    

 

Dân tộc luôn luôn là vấn đề quan trọng và nhạy cảm, có tính thời đại sâu sắc, là vấn đề đang được tất cả mọi quốc gia quan tâm tìm giải pháp ổn định và phát triển.

 Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước luôn nhất quán chính sách: bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển. Vì vậy đã có nhiều chính sách hỗ trợ phát triển hạ tầng, hỗ trợ sản xuất và đời sống, xoá đói giảm nghèo, chăm lo sự nghiệp giáo dục ,đào tạo nguồn nhân lực và đội ngũ cán bộ; Chăm sóc sức khoẻ nhân dân…bộ mặt vùng dân tộc - miền núi thay đổi khá toàn diện.

Tuy vậy, vùng dân tộc – miền núi vẫn là vùng khó khăn nhất, nguy cơ tụt hậu ngày càng xa so với mặt bằng phát triển của cả nước. Có thể nói vùng dân tộc- miền núi Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thức trong quá trình hội nhập quốc tế. Sau đây là những thách thức nổi bật nhất.

A- Những thách thức từ điều kiện khách quan

1-Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt :  Địa hình chia cắt, rừng núi hiểm trở, nhiệt độ trong ngày và giữa các mùa có biên độ thay đổi lớn và đột ngột, gây nhiều khó khăn cho sức khoẻ con người và sự thích nghi của cây trồng vật nuôi. Mùa khô thì hanh heo, khô cạn, thiếu nước nghiêm trọng; Mùa mưa lại thường xuất hiện các cơn giông lớn, gây lũ ống, lũ quýet, sạt lở, xói mòn đất.

Điều kiện tự nhiên đó làm cho vùng dân tộc –miền núi giao thông đi lại rất khó khăn, thiếu đất sản xuất, thiếu nước sinh hoạt và nước sản xuất, dịch bệnh nhiều. Chiều cao, cân nặng, tuổi thọ bình quân của con người đều thấp hơn bình quân của cả nước. Ví dụ các dân tộc có số dân dưới 10.000 người tuổi thọ trung bình chỉ 55-60/ 72.

2- Kết cấu hạ tầng thấp kém . Ở Việt Nam hiện còn hơn 300 xã chưa có đường ô tô vào trung tâm, các thôn bản ở miền núi chỉ mới được khoảng 30% có đường giao thông. Về mùa mưa thì hầu như giao thông miền núi bị ngưng trệ . Về điện thắp sáng : 35% số xã và 45% thôn bản vùng dân tộc miền núi chưa có điện lưới quốc gia. Thuỷ lợi chỉ mới đáp ứng 30% nhu cầu sản xuất. Trường học ở cấp xã mới kiên cố hoá được khoảng 60%, còn ở thôn bản chỉ mới khoảng 30%. Trạm xá xã đã được xây dựng nhưng còn thiếu trang bị ,phương tiện, và nhất là đội ngũ chuyên môn.

3- Điểm xuất phát thấp . Cả về lực lượng sản xuất lẫn quan hệ sản xuất, cả về cơ sở kinh tế lẫn kiến trúc thượng tầng đều thua xa và có nguy cơ ngày càng doãng xa so với mặt bằng bình quân của cả nước. ví dụ : thu nhập bình quân đầu người ở vùng dân tộc miền núi phía bắc chỉ khoảng 400-500 USD/ 1200 USD. Công cụ sản xuất chủ yếu vẫn là thủ công, cầm tay. Các doanh nghiệp, HTX phát triển chậm. Đội ngũ cán bộ cấp xã đến 70% chưa được đào tạo chuyên môn. Chất lượng nguồn nhân lực rất thấp, số con em được đào tạo thì đã thoát ly, số còn lại không có nghề nghiệp. Nhiều doanh nghiệp đứng chân ở miền núi nhưng không tiếp nhận con em đồng bào dân tộc thiểu số chỉ vì không đủ học vấn và tay nghề.

B- Những thách thức xuất phát từ nhận thức phiến diện, lệch lạc về vùng dân tộc –miền núi.

1- Nhiều người, trong đó có cả những người trong cơ quan tham mưu chiến lược vẫn cho rằng vùng dân tộc- miền núi không phải là vùng động lực phát triển, vì vậy,chủ yếu vẫn là xoá đói, giảm nghèo, giúp đồng bào điều kiện sống, chăm sóc sức khoẻ, mở mang trường học, cứu giúp khi thiên tai ,bão lũ. Do dân cư sống rải rác, suất đầu tư lớn, hiệu quả kinh tế thấp, nên chủ yếu trong chính sách vẫn chỉ là hỗ trợ chứ chưa phải là đầu tư phát triển. Vì vậy, quy mô hỗ trợ thấp, cào bằng, không đồng bộ. Các công trình làm được một thời gian là hư hỏng, trở về số mo ban đầu

2- Một số công trình xây dựng ở miền núi như Thuỷ điện, khai thác mỏ, chế biến lâm sản…thường thường các nhà đầu tư lại chú trọng lợi nhuận, giảm suất đầu tư, chưa quan tâm đúng mức đến quy hoạch phát triển dân cư, ổn định và phát triển sản xuất , chưa quan tâm tạo nghề cho người dân. Đa số chỉ mới dừng lại ở mức làm nhà ở tại khu tái định cư, cấp cho một ít đất sản xuất, hỗ trợ mấy tháng lương thực. Còn cuộc sống lâu dài phía sau đó, môi trường tự nhiên và xã hội của người dân tộc thiểu số rất ít được quan tâm. vì vậy các khu tái định cư của chúng ta thiếu tính bền vững. Tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng nặng nề.

3- Quá trình hỗ trợ chủ yếu mới quan tâm phương diện kinh tế, chưa khơi dậy sức mạnh văn hoá để phát huy ý chí tự lực ,tự cường, lòng tự hào ,tự tôn dân tộc. Thậm chí còn làm người dân xuất hiện tính ỷ lại, trông chờ sự giúp đỡ của nhà nước

4- Khi thấy hỗ trợ nhiều mà vùng dân tộc- miền núi chuyển biến châm, một số người đã xuất hiện hoài nghi về khả năng phát triển kinh tế xã hội của vùng dân tộc- miền núi. Thậm chí xuất hiện các suy diễn lệch lạc, phiến diện , định kiến. Chẳng hạn cho rằng miền núi đất đai rộng lớn nhưng do lười nhác, không biết cách làm ăn; rượu chè bê tha; sinh đẻ nhiều…sự thật không phải như vậy. Ngoài rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, thì đất đai ở miền núi còn do nhiều chủ thể quản lý: Nông Lâm trường,các cơ quan ,đơn vị, doanh nghiệp. Quá trình tích tụ ruộng đất ở miền núi diễn ra nhanh chóng hơn ở miền xuôi; tỷ lệ đất trên đầu người ở các tỉnh Tây Bắc thấp nhất so với cả nước. Người dân ở đây đang thiếu đất sản xuất rất nghiêm trọng. Hàng chuc ngàn hộ ở Hà Giang , Lai Châu, Lào Cai, Điện Biên chỉ có 50-60 m2 đất ở, không có đất sản xuất.

Nhiều người vẫn hay nói ở miền núi dân trí thấp ,lạc hậu. Nhưng lại không chịu đi tìm căn nguyên, do dó vừa dẫn tới thái độ xem thường lại vừa thực thi giải pháp kém hiệu quả; không hợp lòng dân. Họ quên rằng đây là một dân tộc khác ,một ngôn ngữ khác. Ngay từ mẫu giáo các em học sinh dân tộc thiểu số đã phải tiếp thu tri thức từ cô giáo miền xuôi, cô giáo lại không biết tiếng dân tộc; các em phải học chung một giáo trình xa lạ với môi trường sống hàng ngày. Hậu quả là các em không đủ vốn tiếng Việt để tiếp thu tri thức khoa học kỹ thuật. Đó chính là nguồn gốc sâu xa làm cho chất lượng giáo dục miền núi ngày càng tụt hậu. Không nhìn thấy nguyên nhân gốc rễ đó mà cứ cho dân trí thấp nên chỉ chú trọng vào chế độ cử tuyển, ưu tiên trong thi cử. Các em học sinh dân tộc thiểu số rất mặc cảm với tấm bằng đại học cử tuyển,mặc cảm với việc bị tách riêng học lớp dự bị đại học ' Chúng ta đã hình thành một số trường đại học ở vùng dân tộc, nhưng thực tế chỉ có 5-8% sinh viên là người dân tộc thiểu số. Nói chính xác các trường đại học  ở vùng dân tộc đang ngày càng xa rời tuyên ngôn ban dầu của nó.

Những nhận thức phiến diện , Lệch lạc trên đây mới chỉ là một phần của tảng băng nổi trong dòng chảy nhận thức về miền núi dân tộc. Nhưng nó cũng đã cho thấy đó chính là những thách thức lớn nhất mà không dễ khắc phục một sớm một chiều.

C- Suy nghĩ về con đường vượt qua thách thức của vùng dân tộc – miền núi

1- Trước hết phải đánh giá đúng tiềm năng chứa đựng trong vùng dân tộc- miền núi để xác định chiến lược đầu tư để vùng miền núi cũng trở thành vùng động lực phát triển của đất nước. Phải đầu tư phát triển chứ không phải chỉ là hỗ trợ .Mỗi vùng, mỗi tỉnh đều có các trung tâm kinh tế, gắn đô thị hoá; quy hoạch hạ tầng gắn quy hoạch dân cư và sản xuất ,chế biến bền vững . Làm cho vùng dân tộc –miền núi không phải là các toa tàu ì ạch, mà trở thành các đầu tàu  cùng hợp lực trên chuyến tàu tốc hành của đất nước.

2- Chất lượng nguồn nhân lực chính là điểm “ nghẽn” cốt tử . Giải được bài toán nguồn nhân lực chính là giải pháp cơ bản, lâu dài nhất cho sự phát triển toàn diện và bền vững vùng dân tộc – miền núi. Phải tái cơ cấu lại mục tiêu đào tạo của các Trường Đại học ở Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây nam bộ. Các trường này chủ yếu đào tạo nguồn nhân lực cho vùng dân tộc- miền núi. Con em đồng bào dân tộc thiểu số sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học đều được tham gia thi tuyển đại học ,cao đẳng, nếu cháu nào không trúng đều được vào học dự bị. Sau thời gian dự bị căn cứ lực học thực tế để quyết định cho vào đại học, cao đẳng, hay học nghề . Chính sách học nghề phải rất đặc biệt từ đầu vào đến đầu ra. Phải có một cơ quan có trách nhiệm bố trí công tác cho các cháu học sinh dân tộc thiểu số khi ra trường về nhận công tác tại địa phương. Đào tạo,bố trí ,sử dụng, và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số để tham gia lãnh đạo, quản lý hệ thống chính trị các cấp.

3 – Phải có chính sách đúng đắn để khơi dậy sức mạnh văn hoá. Từ bảo tồn ,phát triển ngôn ngữ, các lễ hội, trang phục…để nâng cao ý thức cộng đồng, nâng cao lòng tự hào ,tự tôn dân tộc. Những điều tưởng như rất xa với kinh tế, nhưng đó chính là cội nguồn sức mạnh tinh thần để người dân vươn lên thoát nghèo, làm giàu chính đáng

4- Tiếp tục thực hiên các chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số về giảm nghèo, hỗ trợ nhà ở, đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt, nước phục vụ sản xuất.;hỗ trợ về giáo dục ,y tế, bảo hiểm xã hội; nâng cao chất lượng dân số…

Những giải pháp cơ bản trên đây phải được thực hiện kiên trì, lâu dài, nhiều thế hệ, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội thì mới mong rút ngắn dần khoảng cách chênh lệch giữa các vùng miền –một nhân tố quyết định cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc

 

 

Gửi bình luận của bạn
x