Chính sách dân tộc

Thành tựu và những bất cập, hạn chế của Chính sách dân tộc hiện nay

28-04-2016 - 19:48 - 13343 lượt xem

Dân tộc và chính sách dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược của cách mạng Việt nam

    Những bất cập, hạn chế của chính sách dân tộc trong bước chuyển    của nhiệm kỳ hiện nay

 I-Một số thành tựu, hạn chế bất cập và nguyên nhân.

 1-Thành tựu của chính sách dân tộc

   Là một quốc gia đa dân tộc, Đảng và nhà nước ta quan tâm chăm lo phát triển kinh tế xã hội, xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc

Với đường lối, chính sách dân tộc đúng đắn của Đảng và Nhà nước, sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, các Bộ, ngành ở Trung ương, các cấp ở địa phương cùng với nguồn lực đầu tư và sự nỗ lực phấn đấu vươn lên của đồng bào các dân tộc, kết quả đã làm thay đổi rõ nét bộ mặt nông thôn vùng dân tộc và miền núi. Sản xuất một số vùng đã có bước phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa. Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào được nâng lên từng bước, tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm 2 % mỗi năm, nhưng vùng DTTS giảm 3-4% ( Đông bắc giảm 3,62%, Tây Bắc giảm 4,47%, Tây nguyên giảm 3,04%, đồng bằng sông Cửu Long giảm 2,15%.)

 Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thay đổi rõ rệt:  98,6% xã có đường ô tô đến trụ sở UBND xã; có 99,8% số xã và 95,5% số thôn có điện.[1]

Công tác giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số đã có nhiều tiến bộ. Có 99,5%  số xã có trường tiểu học, 93,2% số xã có trường trung học cơ sở, 12,9% số xã có trường trung học phổ thông và 96,6% số xã có trường mẫu giáo/mầm non[2]. 100% xã đã đạt chuẩn phổ cập tiểu học, nhiều nơi đã đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở. Loại hình trường nội trú, bán trú đang phát triển, hiện nay cả nước có 294 trường phổ thông dân tộc nội trú với quy mô 80.832 học sinh; 4 trường dự bị đại học với quy mô trên 3.000 học sinh /năm.[3] Tất cả các tỉnh vùng dân tộc và miền núi đều có trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, trường dạy nghề và đào tạo nghiệp vụ trong các lĩnh vực nông nghiệp, quản lý kinh tế, tài chính, giáo dục, y tế,...

Mạng lưới y tế ở vùng dân tộc và miền núi phát triển, hệ thống bệnh viện tỉnh - huyện và trạm y tế xã đã được quan tâm đầu tư, 99,39% xã có trạm y tế, 77,8% xã đạt chuẩn quốc gia về y tế. Đến năm 2011 có 94,2% số thôn có cán bộ y tế thôn[4]. Đồng bào dân tộc được tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cơ bản, đồng bào nghèo được khám chữa bệnh miễn phí và chính sách bảo hiểm y tế được thực hiện đúng quy định. Các dịch bệnh như: sốt rét, bướu cổ cơ bản được khống chế; giảm đáng kể tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng...

Giá trị văn hóa dân tộc tiếp tục được quan tâm bảo tồn và phát huy như: Khôi phục các lễ hội truyền thống, tổ chức Ngày hội văn hóa - nghệ thuật, thể thao khu vực, tổ chức trình diễn trang phục truyền thống các dân tộc Việt Nam... Mạng lưới  thông tin, văn  hoá, thể  thao  nông  thôn  đã  có  sự  phát  triển nhanh, góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào. có 81,5% số xã có hệ thống loa truyền thanh đến thôn; 38,7% số xã có nhà văn hoá xã;  48% xã có sân thể thao [5].

Hệ thống chính trị vùng dân tộc và miền núi thường xuyên được xây dựng, củng cố và ngày càng phát triển, nhất là hệ thống chính trị cơ sở. Hệ thống cơ quan làm công tác dân tộc từng bước được kiện toàn với 3 cấp: Trung ương, cấp tỉnh và cấp huyện.

Tình hình an ninh chính trị và trật tự xã hội cơ bản được ổn định, quốc phòng, an ninh được giữ vững. Đồng bào các dân tộc đoàn kết, tin tưởng vào đường lối đổi mới, thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nâng cao cảnh giác trước mọi âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch.

  2- Tồn tại, hạn chế

    Mặc dù đã đạt được những thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, nhưng vùng dân tộc, miền núi vẫn còn nhiều khó khăn hạn chế, thách thức cần phải tập trung cao độ để khắc phục, nhằm đảm bảo quyền phát triển của các dân tộc thiểu số .

   *.Chất lượng nguồn nhân lực thấp:

Nhìn chung, chất lượng nguồn nhân lực trên địa bàn dân tộc, miền núi còn hạn chế, lao động chưa qua đào tạo là: 86,21% , tỷ lệ này ở Đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên là: 90%; 17/52 tỉnh có trên 90%; một số dân tộc có tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo rất cao như dân tộc Mông: 98,7%, Khmer: 97,7%, Thái: 94,6%, các dân tộc thiểu số khác: 95,95%. Lao động đã qua đào tạo chủ yếu là trình độ thấp: sơ cấp: 2,54%, trung cấp: 4,8%, cao đẳng: 1,43%, đại học trở lên: 4,81%. Tỷ lệ lao động có trình độ cao đẳng, đại học của dân tộc thiểu số rất thấp: Thái: 1,6%; Khmer: 1,0%; Mông: 0,3%, các dân tộc thiểu số khác: 1,5%. Có gần 21% người DTTS không biết chữ, cao nhất là dân tộc La Hủ 65,6%, Lự 57,2%, Mảng 56,2%, Mông 53,4%, cờ Lao 50,2%, Hà Nhì 49,5%, Lô Lô 45,6%, RagLay 45.1%

   * Đội ngũ cán bộ thiếu và yếu:

Đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số còn thiếu, nhiều dân tộc chưa có cán bộ chủ chốt ở cấp cơ sở; trình độ chuyên môn nhìn chung còn thấp: ở cấp tỉnh, tỷ lệ cán bộ người dân tộc thiểu số có trình độ cao đẳng, đại học 77,26%, cấp huyện là 45,63%, cấp xã, cán bộ có trình độ cao đẳng, đại học rất thấp, chỉ chiếm 5,87%, còn lại 94,13% là sơ cấp và trung cấp và chưa qua đào tạo. Năng lực thực thi công vụ hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước và xử lý các tình huống, vấn đề phát sinh ở cơ sở.

    * Vùng dân tộc, miền núi vẫn là vùng nghèo nhất, khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn, chênh lệch về thu nhập và đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi so với vùng đồng bằng ngày càng gia tăng; đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số còn rất khó khăn. Năm 2001 tỷ lệ nghèo chung của cả nước 17,18%, vùng dân tộc và miền núi 26,38%, riêng các xã, thôn bản đặc biệt khó khăn là 33,5%; đến năm 2010 tỷ lệ nghèo chung cả nước là 9,45%, vùng dân tộc và miền núi là 19,4% trong khi ở khu vực các xã đặc biệt khó khăn lên đến 28,8%. Theo két quả cuộc điều tra 53 DTTS năm 2015 thì tỷ lệ hộ nghèo cả nước khoảng 7%, DTTS là 23,1%, cận nghèo thêm 13,6%. Dân tộc có tỷ lệ nghèo cao nhất là La Hủ 83,9%, Mảng 79,5%, Chứt 75,3% , Ơ Đu 66,3%, Co 65,7%, Khơ mú 59,4%, Xinh Mun 52,4%, La Ha 47,7%, Kháng 46,1%, Mông 45,7%.

Theo số liệu điều tra mức sống, khoảng cách thu nhập giữa 20% hộ nghèo nhất và 20% hộ giàu nhất đã tăng lên nhanh chóng. Năm 2001 chênh lệch thu nhập giữa nhóm 20% số hộ có thu nhập cao nhất và nhóm 20% số hộ có thu nhập thấp nhất ở các tỉnh miền núi phía Bắc là 5,22 lần, các tỉnh Tây Nguyên là 10,9 lần. Đến năm 2010 tỷ lệ này đã tăng lên 6,8 lần ở các tỉnh miền núi phía Bắc và 12,9 lần ở các tỉnh Tây Nguyên. Thời gian tới, khi nước ta hội nhập sâu và toàn diện vào nền kinh tế quốc tế, một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn sẽ bị có nguy cơ tụt hậu xa hơn, khoảng cách thu nhập và mức sống sẽ ngày càng giãn cách với các đô thị và các vùng thuận lợi.

    * Kết cấu hạ tầng yếu kém:

Hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi còn nhiều yếu kém và hiện mới chỉ phục vụ nhu cầu dân sinh thiết yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế thị trường; chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, chưa khai thác hết tiềm năng lợi thế của vùng. Hiện nay còn 27 xã chưa có đường giao thông đến trung tâm xã, 360 xã chưa có đường ô tô đi được bốn mùa, 14.093 thôn, bản chưa có đường giao thông cho xe cơ giới, 204 xã và 8.100 thôn, bản chưa có điện thắp sáng, 32% số hộ chưa có nước sinh hoạt hợp vệ sinh, 16,4% trường lớp chưa được kiên cố, số thôn, bản chưa có nhà trẻ, mẫu giáo chiếm tới 75,6%, 758 xã và 16.284 thôn, bản chưa có nhà sinh hoạt cộng đồng. 

    *. Văn hoá các dân tộc thiểu số có nguy cơ bị mai một. mất dần bản sắc; tình trạng pha tạp, biến thái trong các hoạt động văn hóa, lối sống ngày càng rõ nét; mức độ thụ hưởng văn hóa của người dân còn hạn chế, tệ nạn xã hội diễn biến phức tạp. Công tác thông tin tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về cơ sở chưa đáp ứng được yêu cầu.

    *. Hệ thống chính trị ở cơ sở còn hạn chế, an ninh, trật tự an toàn xã hội trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nhất là các vùng biên giới còn tiềm ẩn nhiều nhân tố gây mất ổn định. Các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh nhiều hoạt động phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc; lợi dụng “dân tộc”, “tôn giáo”, “nhân quyền”, tình hình đời sống còn khó khăn, hạn chế thông tin kích động lôi kéo gây mất ổn định chính trị, xã hội. Hoạt động truyền đạo trái pháp luật vẫn diễn ra; mâu thuẫn, tranh chấp đất đai một số nơi chưa được giải quyết triệt để; tình hình di cư tự do diễn biến phức tạp gây mất ổn định về chính trị, xã hội.

 Tình hình trên có cả nguyên nhân KQ và CQ, nhưng ở đây chúng tôi muốn bàn riêng về những hạn chế bất cập của hệ thống chính sách

 Hệ thống chính sách DTTS hiện hành có những điểm hạn chế, bất cập sau như sau:

-Sự chồng chéo trong hệ thống chính sách

Chính sách hỗ trợ về nước sạch và môi trường nông thôn (6 chính sách); hỗ trợ đất sản xuất, đất nhà ở và văn hóa thông tin (5 chính sách); hỗ trợ giải quyết việc làm, hỗ trợ pháp lý và hỗ trợ xây dựng trạm y tế (4 chính sách); còn các lĩnh vực khác như hỗ trợ xây dựng đường sá, thủy lợi, trường học, giống, vốn, kỹ thuật đều có 3 chính sách quy định.

Về đối tượng thụ hưởng, hộ nghèo DTTS ở vùng đồng bằng sông Cửu Long là đối tượng của rất nhiều chính sách từ chính sách quốc gia về giảm nghèo theo Quyết định 20/2007/QĐ-Ttg, cho tất cả các hộ nghèo DTTS  theo Quyết định 134/2004/QĐ-Ttg, cho các hộ nghèo thuộc các xã ĐBKK theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP, chính sách chung cho vùng nông thôn như Quyết định 227/2006/QĐ-Ttg và chính sách đặc thù cho các hộ nghèo thuộc 13 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long theo Quyết định 74/2008/QĐ-Ttg.

-Các lỗ hổng chính sách

Chưa có chính sách phân vùng để phát triển sản xuất, hình thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung cho các vùng DTTS.

Đã có nhiều chính sách phát triển CSHT thiết yếu và phát triển sản xuất nhưng đối với vùng DTTS, đặc biệt những vùng có tỷ lệ nghèo cao, các chính sách này chưa tạo ra sự thay đổi căn bản về sinh kế, từ đó thu hẹp khoảng cách về thu nhập và đời sống của vùng DTTS với các vùng khác. Mặc dù cơ chế thị trường đã giúp xác định được lợi thế so sánh của từng vùng nhưng vẫn còn thiếu vắng các chính sách phân vùng để phát triển sản xuất dựa vào điều kiện tự nhiên và KTXH đặc thù của từng vùng.

Chưa có chính sách kết nối sản phẩm của vùng DTTS với thị trường

Những chính sách thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm hiện hành mới chỉ dừng lại ở các chính sách trợ giá, trợ cước vận chuyển, xây dựng đường sá, chợ... Các chính sách này rất quan trọng đối với vùng DTTS vì tại đây giao thông khó khăn, quy mô sản xuất manh mún, nhỏ lẻ song các chính sách này chưa thực sự giải quyết được vấn đề kế nối sản phẩm một cách cơ bản. Các chính sách kết nối cần chú ý nhiều hơn đến các dịch vụ giải quyết các khó khăn trong quá trình sản xuất và khó khăn của đầu ra  trong việc tiếp cận thị trường.

Thiếu chính sách về tái tạo môi trường, khôi phục cảnh quan, không gian sinh tồn cho người DTTS

Vùng DTTS là vùng tập trung nhiều tài nguyên, khoáng sản, các danh lam thắng cảnh đẹp hiện đang được tập trung khai thác phục vụ cho quá trình phát triển KTXH của cả nước (làm thủy điện, khai thác khoáng sản, phát triển du lịch) nhưng chưa có những chính sách hiệu quả để bảo vệ tái tạo môi trường, khôi phục cảnh quan, gìn giữ không gian sinh tồn cho người DTTS.

-Thiếu chính sách quản lý đặc thù

Đã có các chính sách DTTS về quản lý đất, rừng, cán bộ, … nhưng chưa có những chính sách quản lý đặc thù phù hợp với văn hóa các DTTS về không gian sinh tồn, vai trò của già làng/trưởng bản, tỷ lệ cán bộ là người DTTS theo tỷ lệ số dân của DTTS. Bên cạnh đó, chưa có các chính sách liên quan đến tổ chức phát triển cộng đồng và nâng cao tính chủ động của đồng bào DTTS.

-Nguồn lực thực hiện chính sách không đủ. 

Việc cân đối, bố trí vốn cho các chính sách chưa được chủ động, chưa đảm bảo cho các mục tiêu và kế hoạch đã được phê duyệt. Tính riêng kinh phí được cấp để thực hiện các chương trình chính sách do Ủy ban Dân tộc quản lý giai đoạn 2006 - 2010 là 22.393,91 tỷ đồng, đạt 67,45% nhu cầu vốn được duyệt; Giai đoạn 2011 - 2014 được cấp 12.885,54 tỷ đồng, đạt 40,7% kế hoạch vốn. Riêng năm 2014, vốn cấp chỉ đạt 35,8 % (4.474,26/12.497,85 tỷ đồng) . Cụ thể: Vốn cấp thực hiện Quyết định 755/QĐ-TTg trong 2 năm 2014 và 2015 chỉ đạt 2,87% (cấp 201 tỷ đồng/ 7.000,94 tỷ đồng). Quyết định 551/QĐ-TTg năm 2014 chỉ đạt 51,74% (cấp 3.129,8 tỷ đồng/ 6.049,507 tỷ đồng).

Ngoài ra còn một loạt các chính sách về ổn định dân cư, giáo dục, đào tạo đều có mức hỗ trợ thấp nên xã nghèo, người nghèo không thể tìm thêm nguồn kinh phí khác.

   -Hệ thống chính sách ban hành chưa đồng bộ, cơ chế thực thi chính sách  còn yếu và thiếu sự phối hợp

Sự không đồng bộ trong chính sách thường gặp ở nhóm chính sách di dân hay hỗ trợ phát triển sản xuất- những nhóm chính sách cần sự kết hợp của nhiều giải pháp hay có phạm vi rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực.

Cơ chế thực thi chính sách phức tạp và thiếu sự đồng bộ trước hết thể hiện ở khâu tổ chức quản lý thực hiện. Lấy ví dụ về một số chương trình quốc gia nhằm mục đích phát triển KTXH hay giảm nghèo nêu trong bảng dưới đây, có thể thấy do chương trình quốc gia gồm nhiều lĩnh vực, do nhiều cấp từ trung ương cho đến địa phương thực hiện nên mặc dù mỗi chương trình đều nêu trách nhiệm của từng bộ ngành ở cấp trung ương, thậm chí nêu cả trách nhiệm của một số cấp chính quyền địa phương song sự phối hợp chưa tốt khiến cho không chỉ việc thực thi chính sách khó khăn mà hiệu quả của chính sách giảm hẳn.

Ở cấp địa phương cũng không có sự phối hợp đồng bộ: “Tại cấp huyện dường như không có sự phối hợp giữa việc hỗ trợ xây dựng kế hoạch kinh doanh để vay vốn với các chương trình giảm nghèo hỗ trợ khuyến nông và cung cấp dịch vụ. Tình trạng tương tự cũng xảy ra trong lĩnh vực đào tạo nông nghiệp của CT135-II và CTMTQG-GN. Các chương trình này có vẻ cũng không kết nối được những người đào tạo theo dự án của mình với hoạt động cho vay sản xuất của VBSP”[6]

Ngoài ra, cũng chưa có bộ máy hay cơ quan theo dõi công tác dân tộc chuyên trách, ổn định, thống nhất từ Trung ương đến địa phương với nguồn kinh phí hoạt động phù hợp nên không có hệ thống cơ sở dữ liệu liên tục, đặc biệt là ở cấp xã.

Nguồn lực cho cán bộ quản lý cấp xã, thôn/ấp và cán bộ hoạt động giảm nghèo vùng DTTS còn nhiều hạn chế cả về số lượng, chất lượng và kinh phí nên chưa đáp ứng được yêu cầu phân cấp thực hiện hiệu quả các chương trình xóa đói giảm nghèo.

Thêm vào đó, cách thức tổ chức thực hiện các chính sách còn thiếu xuyên suốt.

Quá trình thực thi gặp phải nhiều trở ngại do quy định và thủ tục thanh quyết toán kinh phí hỗ trợ còn cứng nhắc, phức tạp không phù hợp với thực tế.

Cơ chế thực hiện chính sách hỗ trợ chưa tạo động lực cho hộ nghèo thoát nghèo

     -Chính sách chưa phù hợp với đặc điểm của vùng và người DTTS.

Như trên đã trình bày, vùng DTTS có những điểm đặc thù về địa hình, khí hậu và người DTTS có những điểm rất đặt thù trong tập quán, thói quen sinh hoạt cũng như sản xuất. Do đó các chương trình, chính sách nếu không tính kỹ đến những điểm này sẽ không khả thi.

Chính sách hỗ trợ tạo việc làm chưa phù hợp với tập quán không thích xa nhà của người dân tộc thiểu số. Do đó, những nỗ lực xuất khẩu lao động không thể thực hiện được.

Chính sách tái định cư khi bố trí tái định cư không tính đến các giá trị văn hoá, tập tục của người dân nên hậu tái định cư đang là bài toán nan giải.       Vì vậy, trong giai đoạn tới, vấn đề cấp bách đặt ra là cần hoàn thiện về nội dung chính sách, cần điều chỉnh hệ thống tổ chức, cơ chế thực hiện chính sách phù hợp hơn với điều kiện thực tế của vùng và người DTTS để nâng cao hiệu quả của chính sách, phát huy nội lực, ý thức tự lực tự cường của người DTTS.

 II- Kiến nghị các quan điểm trong phát triển KT-XH vùng DTTS

  1- Tập trung đầu tư phát triển chứ không chỉ là hỗ trợ, tương trợ.

  2-Hình thành các trung tâm kinh tế văn hóa, là động lực cho vùng, động lực từng tỉnh, huyện, cụm xã.

  3- chính sách phải phù hợp điều kiện và văn hóa từng vùng.

  4- huy động từ nhiều nguồn lực đầu tư phát triển miền núi, nhưng nguồn lực nhà nước là chủ yếu.

  5- Công tác dân tộc là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị

 

    Một số nhóm chính sách cơ bản :

Nhóm 1: Tập trung phát triển các vùng trọng điểm sản xuất hàng hóa, xây dựng một số chuỗi ngành hàng chiến lược phục vụ xuất khẩu và thị trường trong nước, trọng tâm là sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, nhằm kết nối thị trường cho các sản phẩm được đầu tư phát triển. Tạo điều kiện tốt nhất để đồng bào DTTS được tham gia vào các vùng, chuỗi sản phẩm này.

Nhóm 2: Tùy theo đặc điểm của điều kiện tự nhiên và dân tộc của từng vùng, tập trung tạo điều kiện để người DTTS tham gia cung cấp dịch vụ công ích (trồng rừng, bảo vệ môi trường, quốc phòng), hỗ trợ phát triển sản xuất kết nối với thị trường, ổn định cuộc sống.

Nhóm 3: Nâng cao trình độ nhận thức, thể trạng con người, năng lực phát triển sinh kế, từng bước hình thành sản xuất sản phẩm gắn với thị trường.

- Tiếp tục hoàn thiện hệ thống CSHT phục vụ sản xuất và đời sống ở những tập trung nhiều đồng bào DTTS, trong đó ưu tiên phát triển hệ thống CSHT cấp thôn/bản hoặc cụm thôn/bản.

- Xây dựng các trung tâm, các đô thị ở những vùng khó khăn để tạo ra động lực có sức lan tỏa về kinh tế, chính trị và xã hội trong vùng.

- Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực DTTS, trên tất cả các lĩnh vực của vùng DTTS đồng thời xây dựng hệ thống cán bộ hỗ trợ cộng đồng.

- Tăng cường thực hiện vận động xây dựng đời sống văn hóa mới, xây dựng nông thôn mới kết hợp phát triển và gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc, giữ gìn tri thức bản địa.

- Thực hiện các chương trình tái tạo môi trường, bảo vệ tài nguyên tự nhiên, khôi phục cảnh quan, gìn giữ không gian phát triển cho người DTTS.

- Lồng ghép chương trình/chiến lược/quy hoạch phát triển KTXH vùng DTTS trong chương trình/chiến lược/quy hoạch phát triển KTXH chung của cả nước để khai thác hiệu quả tiềm năng, thế mạnh lâu dài của các vùng DTTS.

III- Một số kiến nghị

1 Đề nghị Trung ương chỉ đạo triển khai văn kiện đại hội XII của Đảng bằng việc Ban chấp hành Trung ương nên có nghị quyết chuyên đề về dân tộc, miền núi

2 Xây dựng luật Dân tộc

3 Có chiến lược xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số, các bộ ngành nhất thiết phải có lãnh đạo là người dân tộc thiểu số; ở các địa phương có đồng bào dân tộc thiểu số sống thành cộng đồng nhất thiết phải bố trí cán bộ chủ trì là người dân tộc thiểu số.

       4 Đổi mới quản lý nhà nước về công tác dân tộc

 Đổi mới mô hình tổ chức thực hiện quản lý nhà nước về công tác dân tộc hiện nay là Ủy ban Dân tộc thành Bộ Dân tộc.

       5- Đổi mới căn bản quy trình xây dựng chính và thực hiện chính sách, theo hướng :

              - người dân trực tiếp tham gia kiến nghị các nhu cầu và thiết kế chính sách

              - khi dự thảo xong đưa xuống người dân tham gia, có sự tư vấn, phản biện của các nhà khoa học độc lập, các nhà hoạt động xã hội do người dân đề xuất danh sách

              - Người dân chủ động dưới sự hướng dẫn của các cấp CQ, và tổ chức xã hội để trực tiếp thực thi, giám sát các công trình dân sinh tại địa phương.

                                                                            Pa Vệ Sủ



[1] Kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2011 của Tổng cục Thống kê

­­­

 ­­ 7 và 8 Báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo tại buổi làm việc giữa Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc với Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 1/6/2012.

9 10 Kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2011 của Tổng cục Thống kê

[6] UNDP, Rà soát tổng quan các chương trình dự án giảm nghèo ở Việt Nam, Hà Nội, năm 2009

 

Gửi bình luận của bạn
x