Chính sách dân tộc

Tính ưu việt và những vấn đề đặt ra của chính sách Dân tộc ở Việt Nam dưới góc nhìn của Bạn bè quốc tế

17-06-2016 - 17:58 - 814 lượt xem

Bài viết của TS Hoàng Xuân Lương

    

Trong tiến trình đổi mới và hội nhập Quốc tế của đất nước, công tác đối ngoại của Ủy ban dân tộc đã đạt nhiều thành tựu quan trọng : Mở rộng chương trình hợp tác với các nước trong khu vực châu Á; giao lưu học hỏi kinh nghiệm công tác dân tộc của nhiều nước lớn ở các Châu lục; Xây dựng các chính sách nhằm tăng cường hợp tác Quốc tế, tranh thủ được sự giúp đỡ cuả Chính phủ các nước và các Tổ chức Quốc tế, hỗ trợ cho sự phát triển kinh tế xã hội vùng dân tộc, miền núi.

 Trong các phiên họp thường kỳ hàng năm giữa Chính Phủ Việt Nam với các Tổ chức quốc tế, Ngân hàng Thế giới và các tổ chức của Liên hợp quốc, các tổ chức NGO, đều thống nhất tập trung cao sự hỗ trợ cho đồng bào dân tộc thiểu số. Đây không chỉ thể hiện tình cảm mà còn biểu hiện lòng tin của bạn bè Quốc tế vào quyết tâm của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong việc thực hiện chính sách dân tộc.

 Khi Bộ Dân tộc của Cộng hòa Ấn Độ đề nghị Ngân hàng Thế giới hỗ trợ tài chính để đi nghiên cứu, học tập chính sách dân tộc ở nước ngoài, Bà Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam đã gợi ý cho Đoàn Ấn Độ sang Việt Nam, bởi những năm tháng công tác ở Việt Nam Bà hiểu, dù còn rất nhiều khó khăn, nhưng nhà nước Việt Nam luôn quan tâm chăm lo đồng bào dân tộc thiểu số, bà nhận ra được tính nhân văn trong cách nhìn của người Việt Nam về Đại đoàn kết các dân tộc.

 Ngài Bộ Trưởng Bộ dân tộc Ấn Độ sau khi đi khảo sát các địa phương ở Tây Bắc đã có nhận xét : Thành công lớn của Việt Nam là các dân tộc sống hòa thuận, ở đan xen nhau mà không có xung đột, quan niệm của người Việt Nam về Đoàn kết dân tộc rất gần với Ấn Độ: Bình Đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển là một phương hướng lý tưởng phù hợp đạo lý Phật giáo, Ấn Độ cũng đang đi theo phương hướng này. Khi chúng tôi hỏi ngài Bộ trưởng thấy trong chính sách dân tộc của Việt còn hạn chế gì? Ngài đắn đo một lúc rồi chia sẻ thẳng thắn : Hiến pháp của Việt nam đã nói về vấn đề dân tộc sâu sắc, nhưng lại còn chung chung, chưa được cụ thể bằng các luật chuyên ngành; Rõ nhất là nguồn ngân sách, tỷ lệ cán bộ dân tộc thiểu số trong hệ thống không được luật hóa. Hiến pháp của Ấn Độ xác định rõ tỷ lệ đầu tư ngân sách và tỷ lệ bố trí cán bộ là theo tỷ lệ dân số. Dân tộc thiểu số của Ấn Độ là 8,5% dân số, thì ngân sách hàng năm là 8,5%, tỷ lệ cán bộ công chức, viên chức là người dân tộc thiểu số, kể cả lực lượng vũ trang đều phải bố trí 8,5%. Ở các Bang có tỷ lệ dân tộc thiểu số như thế nào thì bố trí ngân sách và cán bộ theo tỷ lệ ấy.

 Ngài Thứ trưởng Bộ Biên giới- Dân tộc Mianma đi thăm các tỉnh Tây bắc, Tây Nguyên và cả vùng đồng bào Chăm, Khmer đã có nhận xét : chính sách dân tộc Việt Nam rất toàn diện, bao quát đầy đủ các lĩnh vực đời sống; nhà nước, lãnh đạo gần với dân, không phân biệt đẳng cấp; hàng năm lại rà soát bổ sung các chính sách mới. Các bạn Mianma góp ý nên giao quyền rõ hơn cho cơ quan làm công tác dân tộc. ở Mian ma, trên Bộ Biên giới- Dân tộc có Ủy ban nhà nước về Biên giới-dân tộc do Tổng thống làm chủ tịch, Bộ trưởng Bộ Biên giới- Dân tộc làm phó chủ tịch thường trực, vì vậy khi Ủy ban nhà nước đã quyết định thì không phải xin ý kiến các bộ, ngành nữa, các bộ phải chấp hành. Dưới Bộ Biên giới- dân tộc có 3 cục phát triển trên 3 lĩnh vực thì đều có quyền quản lý và phân bổ ngân sách. Quyền hạn và trách nhiệm rất rõ ràng.

 Cộng hòa Ai Len, Ngân hàng Thế giới, UNDP, WOMEN... những tổ chức gắn bó với nhân dân Việt nam trong nhiều năm qua, kể cả khi Việt nam đã đạt mặt bằng của các nước phát triển trung bình, nhiều tổ chức Quốc tế đã rút đi, hoặc giảm quy mô, tỷ lệ hỗ trợ, nhưng các tổ chức này vẫn quan tâm hỗ trợ Việt Nam nhất là vùng dân tộc thiểu số. Các bạn tin vào quyết tâm chính trị và chính sách đại đoàn kết các dân tộc của Việt nam, tin vào sự ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; khi trên Thế giới tình hình diễn biến phức tạp khó lường, bạn bè Quốc tế càng đặt niềm tin vào sự phát triển an toàn của xã hội Việt Nam.

 Cũng rất chân tình, thẳng thắn các bạn góp ý là việt nam cần quan tâm 3 điều : 1, Cần quan tâm vai trò chủ động của người dân trong quá trình xây dựng và thực hiện chính sách; 2, Khắc phục sớm sự chồng chéo quản lý nhà nước đối với các chính sách dân tộc, nên thống nhất một đầu mối quản lý; 3, Phải đảm bảo nguồn lực tài chính cho các chính sách đã ban hành.

Bạn bè Quốc tế ở các nước khác đều chia sẻ những nhận định trên đây, có thể bao quát chung các bạn thấy chính sách của ta là ưu việt, thể hiện tầm văn hóa của một Nhà nước vì dân, nhờ vậy đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số được nâng lên từng bước, tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm 2 % mỗi năm, nhưng vùng DTTS giảm 3-4% ( Đông bắc giảm 3,62%, Tây Bắc giảm 4,47%, Tây nguyên giảm 3,04%, đồng bằng sông Cửu Long giảm 2,15%.)

 Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thay đổi rõ rệt:  98,6% xã có đường ô tô đến trụ sở UBND xã; có 99,8% số xã và 95,5% số thôn có điện.[1]

Công tác giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số đã có nhiều tiến bộ. Có 99,5%  số xã có trường tiểu học, 93,2% số xã có trường trung học cơ sở, 12,9% số xã có trường trung học phổ thông và 96,6% số xã có trường mẫu giáo/mầm non[2]. 100% xã đã đạt chuẩn phổ cập tiểu học, nhiều nơi đã đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở. Loại hình trường nội trú, bán trú đang phát triển, hiện nay cả nước có 294 trường phổ thông dân tộc nội trú với quy mô 80.832 học sinh; 4 trường dự bị đại học với quy mô trên 3.000 học sinh /năm.[3] Tất cả các tỉnh vùng dân tộc và miền núi đều có trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, trường dạy nghề và đào tạo nghiệp vụ.

Mạng lưới y tế ở vùng dân tộc và miền núi phát triển, hệ thống bệnh viện tỉnh - huyện và trạm y tế xã đã được quan tâm đầu tư, 99,39% xã có trạm y tế, 77,8% xã đạt chuẩn quốc gia về y tế. Đến năm 2014 có 94,2% số thôn có cán bộ y tế thôn[4]. Đồng bào dân tộc được tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cơ bản, đồng bào nghèo được khám chữa bệnh miễn phí, các dịch bệnh cơ bản được khống chế.

Giá trị văn hóa dân tộc được quan tâm bảo tồn và phát huy như: Khôi phục các lễ hội truyền thống, tổ chức Ngày hội văn hóa - nghệ thuật, thể thao khu vực, tổ chức trình diễn trang phục truyền thống các dân tộc Việt Nam... Mạng lưới  thông tin, văn  hoá, thể  thao  nông  thôn  đã  có  sự  phát  triển nhanh, góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào. có 81,5% số xã có hệ thống loa truyền thanh đến thôn; 38,7% số xã có nhà văn hoá xã;  48% xã có sân thể thao [5].

Hệ thống chính trị vùng dân tộc và miền núi thường xuyên được xây dựng, củng cố và ngày càng phát triển, nhất là hệ thống chính trị cơ sở. Hệ thống cơ quan làm công tác dân tộc từng bước được kiện toàn với 3 cấp: Trung ương, cấp tỉnh và cấp huyện.

Tình hình an ninh chính trị và trật tự xã hội cơ bản được ổn định, quốc phòng, an ninh được giữ vững. Đồng bào các dân tộc đoàn kết, tin tưởng vào đường lối đổi mới, thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước

     Tuy nhiên bạn bè Quốc tế cũng thẳng thắn trao đổi những khó khăn hạn chế, thách thức cần phải tập trung cao độ để khắc phục, nhằm đảm bảo quyền phát triển của các dân tộc thiểu số, đó là :

   -Chất lượng nguồn nhân lực thấp:

Nhìn chung, chất lượng nguồn nhân lực trên địa bàn dân tộc, miền núi còn hạn chế, lao động chưa qua đào tạo là: 86,21% , tỷ lệ này ở Đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên là: 90%; một số dân tộc có tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo rất cao như dân tộc Mông: 98,7%, Khmer: 97,7%, Thái: 94,6%.

   -Đội ngũ cán bộ thiếu và yếu:

  Đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số còn thiếu, nhiều dân tộc chưa có cán bộ chủ chốt ở cấp cơ sở; trình độ chuyên môn nhìn chung còn thấp: ở cấp tỉnh, tỷ lệ cán bộ người dân tộc thiểu số có trình độ cao đẳng, đại học 77,26%, cấp huyện là 45,63%, cấp xã, cán bộ có trình độ cao đẳng, đại học rất thấp, chỉ chiếm 5,87%, còn lại 94,13% là sơ cấp và trung cấp và chưa qua đào tạo. Năng lực thực thi công vụ hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước và xử lý các tình huống, vấn đề phát sinh ở cơ sở.

    - Vùng dân tộc, miền núi vẫn là vùng nghèo nhất, khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn, chênh lệch về thu nhập và đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi so với vùng đồng bằng ngày càng gia tăng; đời sống của đồng bào dân tộc thiểu số còn rất khó khăn. Năm 2014 tỷ lệ nghèo chung của cả nước 5,97%, vùng Tây Bắc vẫn còn 22,76%, tính chung vùng dân tộc và miền núi còn khoảng 17,4%.

Theo số liệu điều tra mức sống, khoảng cách thu nhập giữa 20% hộ nghèo nhất và 20% hộ giàu nhất đã tăng lên nhanh chóng. Năm 2001 chênh lệch thu nhập giữa nhóm 20% số hộ có thu nhập cao nhất và nhóm 20% số hộ có thu nhập thấp nhất ở các tỉnh miền núi phía Bắc là 5,22 lần, các tỉnh Tây Nguyên là 10,9 lần. Đến năm 2010 tỷ lệ này đã tăng lên 6,8 lần ở các tỉnh miền núi phía Bắc và 12,9 lần ở các tỉnh Tây Nguyên. Thời gian tới khoảng cách thu nhập và mức sống sẽ ngày càng giãn cách xa hơn.

    - Kết cấu hạ tầng yếu kém:

Hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi còn nhiều yếu kém và hiện mới chỉ phục vụ nhu cầu dân sinh thiết yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế thị trường; chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, chưa khai thác hết tiềm năng lợi thế của vùng. Hiện nay còn 27 xã chưa có đường giao thông đến trung tâm xã, 360 xã chưa có đường ô tô đi được bốn mùa, 14.093 thôn, bản chưa có đường giao thông cho xe cơ giới, 204 xã và 8.100 thôn, bản chưa có điện thắp sáng, 32% số hộ chưa có nước sinh hoạt hợp vệ sinh, 16,4% trường lớp chưa được kiên cố, số thôn, bản chưa có nhà trẻ, mẫu giáo chiếm tới 75,6%, 758 xã và 16.284 thôn, bản chưa có nhà sinh hoạt cộng đồng. 

    - Văn hoá các dân tộc thiểu số có nguy cơ bị mai một. mất dần bản sắc; tình trạng pha tạp, biến thái trong các hoạt động văn hóa, lối sống ngày càng rõ nét; mức độ thụ hưởng văn hóa của người dân còn hạn chế, tệ nạn xã hội diễn biến phức tạp. Công tác thông tin tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về cơ sở chưa đáp ứng được yêu cầu.

    - Hệ thống chính trị ở cơ sở còn hạn chế, an ninh, trật tự an toàn xã hội trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nhất là các vùng biên giới còn tiềm ẩn nhiều nhân tố gây mất ổn định. Các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh nhiều hoạt động phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc; hoạt động truyền đạo trái pháp luật, tranh chấp đất đai, di cư tự do diễn biến phức tạp.

 Tình hình trên có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, nguyên nhân khách quan thì ai cũng đã rõ, nguyên nhân chủ quan cũng đã được mổ xẻ nhiều tại các diễn đàn, nhưng qua ý kiến bạn bè Quốc tế chúng ta thấy nổi lên các nguyên nhân chủ quan :

1-    Đường lối chính sách của Đảng và Hiến pháp chưa được cụ thể hóa bằng các luật cụ thể, thiếu cơ sở pháp lý trong bố trí ngân sách cũng như đào tạo bố trí, sử dụng cán bộ người Dân tộc thiểu số.

2-    Sự chồng chéo trong hệ thống chính sách, và chồng chéo trong chức năng quản lý nhà nước vùng dân tộc, miền núi.

   Chính sách hỗ trợ về nước sạch và môi trường nông thôn (6 chính sách); hỗ trợ đất sản xuất, đất nhà ở và văn hóa thông tin (5 chính sách); hỗ trợ giải quyết việc làm, hỗ trợ pháp lý và hỗ trợ xây dựng trạm y tế (4 chính sách); còn các lĩnh vực khác như hỗ trợ xây dựng đường sá, thủy lợi, trường học, giống, vốn, kỹ thuật đều có 3 chính sách quy định.

3-    Một số “ lỗ hổng ” về chính sách như : chưa có chính sách phân vùng để phát triển sản xuất, hình thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung cho các vùng DTTS, Chưa có chính sách kết nối sản phẩm của vùng DTTS với thị trường, thiếu chính sách về tái tạo môi trường, khôi phục cảnh quan, không gian sinh tồn cho người DTTS

   4-Nguồn lực thực hiện chính sách không đủ. 

Việc cân đối, bố trí vốn cho các chính sách chưa được chủ động, chưa đảm bảo cho các mục tiêu và kế hoạch đã được phê duyệt. Tính riêng kinh phí được cấp để thực hiện các chương trình chính sách do Ủy ban Dân tộc quản lý giai đoạn 2006 - 2010 là 22.393,91 tỷ đồng, đạt 67,45% nhu cầu vốn được duyệt; Giai đoạn 2011 - 2014 được cấp 12.885,54 tỷ đồng, đạt 40,7% kế hoạch vốn. Riêng năm 2014, vốn cấp chỉ đạt 35,8 % (4.474,26/12.497,85 tỷ đồng) . Cụ thể: Vốn cấp thực hiện Quyết định 755/QĐ-TTg trong 2 năm 2014 và 2015 chỉ đạt 2,87% (cấp 201 tỷ đồng/ 7.000,94 tỷ đồng). Quyết định 551/QĐ-TTg năm 2014 chỉ đạt 51,74% (cấp 3.129,8 tỷ đồng/ 6.049,507 tỷ đồng).

Ngoài ra còn một loạt các chính sách về ổn định dân cư, giáo dục, đào tạo đều có mức hỗ trợ thấp nên xã nghèo, người nghèo không thể tìm thêm nguồn kinh phí khác.

Việc phối hợp các cấp từ Trung ương cho đến địa phương thực hiện  chưa chặt chẽ khiến cho không chỉ việc thực thi chính sách khó khăn mà hiệu quả của chính sách giảm hẳn.

     5-Chính sách chưa phù hợp với đặc điểm của vùng và người DTTS.

Như trên đã trình bày, vùng DTTS có những điểm đặc thù về địa hình, khí hậu và người DTTS có những điểm rất đặt thù trong tập quán, thói quen sinh hoạt cũng như sản xuất. Do đó các chương trình, chính sách nếu không tính kỹ đến những điểm này sẽ không khả thi.

Ví dụ như chính sách tái định cư không tính đến các giá trị văn hoá, tập tục của người dân nên hậu tái định cư đang là bài toán nan giải.

Để khắc phục được các bất cập trên đây, trước hết phải xác định lại một số quan điểm:

  - Tập trung đầu tư phát triển chứ không chỉ là hỗ trợ, tương trợ.

  -Hình thành các trung tâm kinh tế văn hóa, là động lực cho vùng, động lực từng tỉnh, huyện, cụm xã.

  - chính sách phải phù hợp điều kiện và văn hóa từng vùng.

  - huy động từ nhiều nguồn lực đầu tư phát triển miền núi, nhưng nguồn lực nhà nước là chủ yếu.

  - Công tác dân tộc là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị.

 

Qua góp ý của bạn bè Quốc tế, đề nghị Đảng, Nhà nước cần quan tâm các vấn đề sau :

1-Đề nghị Trung ương cho phép đưa vào văn kiện đại hội XII của Đảng đường lối công tác dân tộc của Đảng cộng sản việt nam; Sau đại hội Ban chấp hành Trung ương nên có nghị quyết chuyên đề về dân tộc, miền núi

2- Xây dựng luật Dân tộc để thể chế hóa các quan điểm của Đảng và các điều của Hiến pháp 2013.

3- Có chiến lược xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số, các bộ ngành nhất thiết phải có lãnh đạo là người dân tộc thiểu số; ở các địa phương có đồng bào dân tộc thiểu số sống thành cộng đồng nhất thiết phải bố trí cán bộ chủ trì là người dân tộc thiểu số.

       4- Đổi mới quản lý nhà nước về công tác dân tộc

 Đổi mới mô hình tổ chức thực hiện quản lý nhà nước về công tác dân tộc hiện nay là Ủy ban Dân tộc thành Bộ Dân tộc.

       5- Đổi mới căn bản quy trình xây dựng chính và thực hiện chính sách, theo hướng :

              - người dân trực tiếp tham gia kiến nghị các nhu cầu và thiết kế chính sách

              - khi dự thảo xong đưa xuống người dân tham gia, có sự tư vấn, phản biện của các nhà khoa học độc lập, các nhà hoạt động xã hội do người dân đề xuất danh sách

              - Người dân chủ động dưới sự hướng dẫn của các cấp chính quyền và tổ chức xã hội để trực tiếp thực thi, giám sát các công trình dân sinh tại địa phương.

 



[1] Kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2011 của Tổng cục Thống kê

­­­

 ­­ 7 và 8 Báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo tại buổi làm việc giữa Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc với Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 1/6/2012.

9 10 Kết quả tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2011 của Tổng cục Thống kê

 

Gửi bình luận của bạn
x