Dân tộc

Những căn cứ khoa học và thực tiễn – Chứng minh sự cần thiết để phát sóng tiếng Tày – Nùng trên Đài Tiếng nói Việt Nam

30-04-2017 - 08:01 - 140 lượt xem

Chu Tuấn Thanh

 

 

 

Theo điều tra dân số tháng 4/2009 thì dân tộc Tày có số dân là: 1.626.392 người; dân tộc Nùng có số dân là: 968.800 người ( ước tính theo mẫu số chung về tăng, giảm dân số). Ước tính đến năm 2019: dân tộc Tày có sấp sỉ 1.700.000 người và dân tộc Nùng có trên 1.022.000 người. Trong đó nơi cư trú của hai dân tộc này cơ bản sống tập trung từng làng, thôn, bản ở các tỉnh vùng Đông Bắc (Việt Bắc cũ)và  một số các tỉnh Tây Bắc và Tây Nguyên. Đây là điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu công tác tuyên truyền.

1.       Thực trạng về văn hóa Dân Tộc Tày – Nùng:

Dân tộc Tày và dân tộc Nùng sống xen kẽ cùng nhau trong một làng, bản hoặc từng thôn riêng biệt nhưng bên cạnh nhau, họ sinh sống quần tụ như anh em ruột thịt, giúp đỡ lần nhau trong lao động sản xuất. Chính vì lẽ đó hai dân tộc này có sự giao thoa văn hóa đậm đặc, phong tục tập quán, lễ, tết, hội hè cơ bản giống nhau. Tuy nhiên  dân tộc Nùng có đến 9 ngành Nùng nhưng về cơ bản nghe và nói chuyện giống nhau, chỉ có Nùng Phàn Sình và Nùng Quý Rịn nói hơi nặng,  tuy nhiên khi người Tày nói chuyện trao đổi thì họ có thể nói tiếng tày rất thành thạo. Cũng như trong cộng đồng dân tộc Tày ở một số tỉnh, khu vực thì ngữ âm nặng hoặc nhẹ (ví dụ như dân tộc Tày ở Bắc Sơn tỉnh Lạng Sơn)  khi họ giao lưu với nhau thì dân tộc Tày - Nùng ở các khu vực lân cận và các huyện trong tỉnh chỉ nghe được 20%,  ngược lại khi dân tộc Tày - Nùng vùng khác nói chuyện thì họ nghe và nói chuyện bình thường như  dân tộc Tày ở các huyện khác trong  tỉnh.

-            Về văn hóa, văn học nghệ thuật và tín ngưỡng dân gian;

Do hai dân tộc này sinh sống xen kẽ và gần gũi nhau qua rất nhiều đời, trong cuộc sống  sinh hoạt hàng ngày cũng như cùng nhau canh tác sản xuất, đặc biệt là trong thời kỳ Nhà nước ta thực hiện sản xuất theo cơ chế hợp tác xã cấp cao, đất, ruộng, vườn được tập trung thành tư liệu sản xuất chung của HTX, dân tộc Tày – Nùng chung một cánh đồng, thửa ruộng,  khu vườn đã ảnh hưởng không nhỏ đến các tập tục trong sinh hoạt, phát triển theo văn hóa làng xã và nông thôn đã tạo dựng cho hai dân tộc này và một số dân tộc khác được giao thoa chung và ảnh hưởng lẫn nhau về tiếng nói, cách thức lao động, sinh hoạt cộng đồng, thậm chí ảnh hưởng đến cả kiến trúc nhà cửa, thờ cúng văn hóa tâm linh, thiên nhiên. Đây cũng là một yếu tố rất quan trọng liên quan đến phát sóng ngôn ngữ Tày – Nùng trên cả phương tiện thông tin đại chúng giúp cho hai dân tộc này đều tiếp nhận thông tin thuận lợi.

-         Về văn học nghệ thuật, đặc biệt là dân ca, dân vũ dân nhạc:

Hai dân tộc Tày - Nùng  giao thoa về văn hóa rất rõ nét, có nghĩa rằng: hát then đàn tính, hát lượn, hát quan làng, hát cọi là bản gốc của dân tộc Tày, hát Slia của dân tộc Nùng, nhưng đến nay người Tày cũng hát Slia, người Nùng hát then đàn tính, lượn, cọi... không kém gì dân tộc Tày hoặc các điệu múa Tày, Nùng thì hai dân tộc này sử dụng chung và rất thành thạo.

Nếu du khách đại chúng đến vùng cao, miền núi thưởng thức một chương trình văn nghệ quần chúng  tại thôn bản thì chắc chắn du khách không  phân biệt được đâu là nghệ thuật Tày và đâu là nghệ thuật Nùng, chỉ có các nhà nghiên cứu thì (may ra) mới có thể phân biệt được.

-                 Về văn hóa tâm linh và thờ cúng dân gian:

Khi nói đến thầy mo, thầy tào là của dân tộc Nùng, thầy bụt là dân tộc Tày để làm các công việc như  giải hạn, đám ma, đám cưới, cầu an… thì cả hai dân tộc đều dùng chung cả hai loại thầy này. Và  đến  nay dân tộc Nùng cũng  tham gia làm  thầy bụt và dân tộc Tày cũng tham gia làm thầy mo, thầy tào. Chính  sự  giao thoa đã ảnh hưởng chung đến đời sống văn hóa của hai dân tộc ở các tỉnh miền núi phía Bắc, đặc biệt là vùng Việt Bắc và số dân tộc Tày – Nùng di cư vào các tỉnh Tây Nguyên sinh sống  thì họ càng  thắt chặt về tình cảm làng  xóm láng giềng hơn bao giờ hết, văn hóa Tày - Nùng cùng hòa quyện với nhau mạnh mẽ hơn.

-                 Về thực trạng phát sóng tiếng Tày-Nùng:

Qua các nội dung  tuyên truyền trên sóng phát thanh, truyền hình ở các đài tỉnh  và truyền  thanh  ở các đài huyện đã góp phần hết sức quan trọng để chuyển tải các chủ trương của Nhà nước đến với đồng bào dân tộc Tày - Nùng và họ tiếp nhận những thông tin đó có hiệu quả. Qua thực tế nghiên cứu, theo dõi của các đài đã phát  sóng như: VTV5- Đài truyền  hình Việt Nam, Đài phát thanh và truyền hình các tỉnh Đông Bắc như: Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Hà Giang đã có nhiều chương trình và thời lượng phát sóng bằng ngôn ngữ  Tày- Nùng, đặc biệt là các đài truyền thanh của huyện cũng đã xây dựng các chương  trình cho tiếng Tày- Nùng, những người dân của hai dân tộc này chiếm 85%  đến 95% là họ đều nghe tốt, trong đó các chương trình chuyên đề như: ca nhạc hát then đàn tính  họ rất chăm chú lắng nghe và vô cùng thích thú. Đây là những  căn cứ  khoa học thực tiễn qua kiểm tra, khảo sát và nghiên cứu nhiều năm ở các địa phương mà bản thân Tôi cảm nhận được thông qua các buổi trò chuyện với một số dân tộc Tày- Nùng ở một số địa phương.

Đài tiếng nói Việt Nam đến nay đã phát sóng bằng ngôn ngữ  trên mười thứ tiếng  dân tộc thiểu số, nhưng  tiếng Tày - Nùng chưa được phát mà chỉ có các đài ở địa phương hoạt động nhiều năm nay. Từ năm 1976 trở về trước khi còn tồn tại khu tự trị Việt Bắc (đài khu) được gọi là đài của trung ương đã phát thanh tiếng Tày, Nùng, Dao, Mông  và  tiếng  phổ thông  nhưng thời lượng phát sóng tiếng Tày - Nùng và các chương trình Tày- Nùng là cơ bản, các chương trình Tày- Nùng  vẫn còn đọng lại và để lại dư âm rất ấn tượng cho Cán bộ, Đảng viên và cộng đồng dân tộc Tày – Nùng, lớp người có tuổi thời đó đến nay chắc không bao giờ quên được.

-                 Qua Hội thảo hôm nay, cá nhân Tôi đã có những trải nghiệm qua thực tế, cũng như nghiên cứu các chính sách liên quan đến công tác tuyên truyền và các hoạt động truyền thông qua các thông tin đại chúng ở nhiều loại hình như: báo hình, báo nói, báo in, báo điện tử, internet, điện thoại, mạng xã hội…vv đồng thời qua những kết quả nghiên cứu và nhu cầu thực tế làm minh chứng đã được nêu trên; cá nhân Tôi đề xuất một số vấn đề liên quan đến sự cần thiết có phát sóng tiếng Tày- Nùng trên Đài tiếng nói Việt Nam hay không?

1.                 Các  Nghị quyết của Đảng, Chính sách pháp luật của Nhà Nước đã ban hành và đã được các cơ quan chức năng cụ thể hóa các chủ trương để đưa vào cuộc sống, đây là căn cứ cơ bản làm nền tảng cho các nhà quản lý, khoa học, các cơ quan chuyên môn  nghiên  cứu xây dựng, hoạch định, tham mưu cho Chính phủ, Ban Bí thư, Bộ Chính trị ban hành chính sách sát với thực tế, hiệu quả, tránh sự dàn trải, manh mún, hình thức, lãng phí. Đây chính là cái gốc để làm cơ sở xây dựng đề án.

2.                 Do tác động ảnh hưởng mạnh mẽ sự bùng nổ thông tin toàn cầu, sự bắt chước, học đòi ngoại lai, thích cái lạ, cái mới, quên hoặc bỏ cái cũ, chạy theo thông tin thị trường làm mai một, biến dạng và mất hẳn các giá trị di sản văn hóa các dân tộc thiểu số, nhà nước ít đầu tư, các cấp ủy Đảng, Chính quyền từ Trung ương đến cơ sở chưa vào cuộc một cách thật sự với cái tâm của người đứng đầu, chủ trương chính sách vẫn là trên giấy chưa thấm vào ý chí lãnh đạo và ngấm vào dòng máu, thớ  thịt của đồng bào để thức tỉnh cho  họ, cần nhanh chóng và cấp bách phải bảo vệ khẩn cấp chính bản sắc văn hóa của dân tộc mình đang bị méo mó, lai tạp và mất dần, đặc biệt là thời kỳ hiện nay hòa nhập toàn cầu và phát triển các hoạt động đa phương tiện đang tranh chấp các thông tin và văn hóa  một cách quyết liệt, đây là dự  báo hết sức đáng lo ngại và thách thức về vấn  đề bảo tồn tiếng nói, chữ viết, đặc trưng văn hóa các dân tộc thiểu số ở nước ta, trong đó dân tộc Tày – Nùng  đang tiềm ẩn nguy cơ lai tạp văn hóa được thể hiện ở các địa phương  phát triển nhanh chóng.

3.                 Dân tộc Tày- Nùng sinh sống ở các tỉnh miền núi phía Bắc (tập trung chủ yếu ở vùng Việt Bắc cũ) là dân tộc sớm giác ngộ cách mạng, có học vị cao so với một số dân tộc thiểu số khác, trung thành với đường lối của Đảng, đời sống kinh tế phát triển ổn định, ít xuất hiện việc xung đột sắc tộc, vấn đề tôn giáo hoặc đòi hỏi nhũng nhiễu yêu sách và gây ra bất ổn vấn đề chính trị- xã hội hầu như không có và không diễn ra điểm nóng, chính vì lẽ đó một số các nhà quản lý, khoa học cho  rằng  ưu tiên đầu tư, quan tâm đến các dân tộc khác vì nhận thức dân tộc Tày - Nùng  ở mức cao rồi. Quan niệm đó cũng đúng nhưng cũng cần có một dự báo khoa học về hướng phát triển có nguy cơ  tiềm ẩn của văn hóa Tày – Nùng bị kinh hóa, đô thị hóa và quốc tế hóa  ảnh hưởng rất mạnh đến văn hóa vùng biên đặc biệt là dân tộc Tày – Nùng  có thể nghe và trò chuyện giao lưu với đồng  bào các dân tộc thuộc các xã, huyện các tỉnh Quảng Tây, Vân Nam, Quảng Đông của Trung Quốc (đặc biệt là Quảng  Tây giữa dân tộc Tày - Nùng với dân tộc Choang Quảng Tây). Như vậy xu hướng giao thoa về văn hóa sẽ tác động ảnh hưởng qua lại và văn hóa sẽ dần bị lu mờ, cải biến và biến dạng. Đây chính là một yếu tố dự  báo làm căn cứ  để phát sóng tiếng Tày- Nùng trên Đài Trung Ương góp phần thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước trong việc bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Tày- Nùng.

4.                Ngoài  lấy ý kiến của các nhà khoa học, nhà quản lý và các địa phương ( chú  ý đến các nhà quản lý, khoa học dân tộc Tày - Nùng) đề nghị Đài tiếng  nói Việt Nam cần có cuộc khảo sát, điều tra cơ bản từ các đài địa phương và người dân lâu nay đã thực hiện để đánh giá hiệu quả và nhu cầu nguyện vọng của người dân, cộng đồng dân tộc Tày- Nùng. Đây là yếu tố hết sức quan trọng, làm căn cứ khoa học về thực tiễn để đề xuất cấp có thẩm quyền để được thực thi đề án phát sóng tiếng dân tộc Tày Nùng trên Đài Quốc gia.

5.                 Phát thanh tiếng dân tộc Tày- Nùng là có ý nghĩa về Chính trị - Xã hội, thể hiện  sự  bình đẳng, tôn trọng dân tộc và  không tạo ra sự hiểu lầm giữa các dân tộc, coi dân tộc này nặng, dân tộc kia nhẹ, sẽ biểu hiện về tư tưởng trong tâm thức mà họ không nói ra. Trong suy nghĩ của họ nhận thức rằng chuyển từ  vấn đề văn hóa sang chính trị đó là “ tin dân tộc này hơn dân tộc kia” chứ không phải là ưu tiên quan tâm để phát sóng dân tộc này trước hay dân tộc kia sau. Đây là một trong 5 căn cứ  để làm cơ sở thực tiễn và lý luận nhằm đúc kết từ nghe, nói, trao đổi và nguyện vọng của người dân mà cá nhân Tôi cảm nhận và thu nạp được. Do vậy việc Nghiên cứu để có sự cần thiết phát sóng bằng ngôn ngữ Tày- Nùng hay không? Trên Đài tiếng nói Việt Nam làm một căn cứ để xây dựng đề án khả thi.

Thưa các đồng chí: Qua Hội thảo khoa học “Định hướng phát triển, phát  thanh tiếng dân tộc thiểu số của Đài tiếng nói Việt Nam” Bằng những minh chứng thực tế và lý luận khoa học nhằm đánh giá lại kết quả trong việc lựa chọn phát tiếng dân tộc nói chung và đề cập phát tiếng Tày- Nùng nói riêng, cá nhân Tôi xin đề nghị như sau:

-                 Đài tiếng  nói Việt Nam chủ động chủ trì phối hợp với các Bộ, Ngành liên quan và các địa phương  xây dựng đề án trình Thủ tướng Chính phủ phát sóng ngôn ngữ Tày- Nùng trên Đài tiếng nói Việt Nam càng  sớm càng tốt. Vì đây không  những thể hiện quyền được bình đẳng về thụ hưởng thông tin mà còn tạo ra những giá trị về di sản văn hóa dân tộc được tôn vinh, quảng bá với bạn bè quốc tế về sự đa dạng phong phú và độc đáo văn hóa các dân tộc Việt Nam, trong đó có văn hóa dân tộc Tày-Nùng.

-                 Đề nghị các nhà quản lý, các nhà khoa học, các chuyên gia, trí thức dân tộc bằng  những nhiệt huyết và trách nhiệm của mình để cùng đồng hành với Đài tiếng nói Việt Nam và ngành truyền thanh cả nước xây dựng và phát triển các chương trình phát thanh tiếng dân tộc, góp phần đẩy mạnh công tác tuyên truyền bằng song ngữ và phát riêng tiếng dân tộc thiểu số, đặc biệt đối với các dân tộc có dân số đông, sống  tập trung  mà họ vẫn còn có tiếng nói, đây cũng là một nhận thức mới về thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà Nước ta về lĩnh vực truyền thông dân tộc ./.

 

 

Gửi bình luận của bạn
x