Trung tâm Quyền con người

Phóng Viên Báo Biên phòng Việt Nam có cuộc phỏng vấn Ông Hoàng Xuân Lương- Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Quyền con người Vùng dân tộc, miền núi

09-04-2017 - 17:11 - 759 lượt xem

Báo Biên phòng thực hiện

 

Ở Việt Nam, miền núi và các dân tộc thiểu số luôn là thành tố quan trọng trong chiến lược phát triển và bảo vệ đất nước. Trong bối cảnh hiện nay, việc nhận thức rõ và giải quyết các nhiệm vụ mới trên nhiều lĩnh vực tại vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống nhằm thực hiện bình đẳng dân tộc, bảo đảm các quyền của các dân tộc thiểu số có ý nghĩa rất quan trọng. PV Báo Biên phòng vừa có cuộc phỏng vấn Tiến sĩ Hoàng Xuân Lương - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu quyền con người vùng dân tộc và miền núi về những nội dung xoay quanh vấn đề này.

Câu 1: Quyền của dân tộc thiểu số là một trong những quyền cơ bản của con người, được các văn kiện pháp lý quốc tế ghi nhận và xếp trong nhóm các quyền dân sự - chính trị. Ở nước ta, dưới góc độ pháp lý, khái niệm “quyền dân tộc thiểu số” được hiểu như thế nào, thưa Tiến sĩ?

Trả Lời : Bước tiến rất quan trọng dưới góc độ pháp lý về Quyền con người ở Việt nam là Hiến pháp 2013 đã giành nguyên cả chương II bàn về Quyền con người, trong đó có quyền của các dân tộc thiểu số.

Khái niệm Quyền dân tộc thiểu số được hiểu trên cả 3 phương diện : Quyền bình đẳng giữa các dân tộc thiểu số với dân tộc đa số đồng thời đảm bảo các chính sách nhằm phát triển các dân tộc thiểu số;  Quyền bình đẳng giữa các dân tộc thiểu số với nhau, đồng thời có chính sách đối với các dân tộc rất ít người, các dân tộc sống trong điều kiện đặc biệt khó khăn ; Quyền của người Dân tộc thiểu số, tức là bên cạnh quyền công dân, người dân tộc thiểu số được nhà nước hỗ trợ bằng các chính sách để phát triển con người.

Câu 2: Thưa Tiến sĩ, giống như hầu hết quốc gia khác trên thế giới, ở Việt Nam cũng có những nhóm thiểu số không chỉ là những nhóm dân tộc có số người ít hơn dân tộc đa số mà còn thiểu số về sắc tộc, tôn giáo và ngôn ngữ. Vậy, quyền của các dân tộc thiểu số trong pháp luật Việt Nam được xem xét trên những khía cạnh nào?

Trả lời : Ở Nước ta, trong hệ thống Pháp luật, cũng như trong các chính sách cụ thể, khi nói về Quyền các dân tộc thiểu số đều quan tâm đến cả khía cạnh bảo tồn, phát huy bản sắc Tộc người, cả tự do tín ngưỡng, Tôn giáo, cả bảo tồn và phát triển tiếng nói, chữ viết riêng của các dân tộc.

Câu 3: Trong một cuộc trả lời phỏng vấn báo chí gần đây, Tiến sĩ có nêu ra một vấn đề đáng quan tâm là hiện nay, điều kiện tiếp cận thông tin của đồng bào ở vùng dân tộc và miền núi nói chung còn rất hạn chế. Thực trạng này có ảnh hưởng như thế nào đối với việc thực hiện quyền con người vùng dân tộc và miền núi?

 

 Trả lời : Đối chiếu với Luật tiếp cận thông tin, có thể nêu lên các rào cản  tiếp cận thông tin của người DTTS như sau :

 1-     Rào cản về ngôn ngữ

 có gần 21% số người dân tộc thiểu số tuổi 15 trở lên không thể đọc, viết và hiểu được một câu đơn giản bằng chữ phổ thông. Những dân tộc có tỷ lệ này cao gồm: La Hủ (65,6%), Lự (57,2), Mảng (56,2), Mông (53,4), Cơ Lao (50,2), Hà Nhì (49,5), Lô Lô (45,6), Raglay (45,1)

Do đó các thông tin qua Đài, báo nhiều người dân chưa tiếp cận được. Một dãn chứng  Nguồn thông tin về các biện pháp tránh thai mà người dân tiếp cận được chỉ có  8,2%

2-     Cơ sở Vật chất phục vụ cho công tác thông tin, truyền thông quá yếu kém

 35% số hộ chưa nghe được Đài tiếng nói Việt Nam; 12% chưa được xem truyền hình các cấp.

Những dân tộc có tỷ lệ hộ được tiếp cận Đài TNVN hoặc đài phát thanh tỉnh, huyện thấp là: Ơ Đu (6,7), Mảng (11,6), Khơ mú (20,1), Kháng (21,9), La Hủ (24,8), La Ha (25,6), Bru Vân Kiều (28,2), Cống (31,9), Lô Lô (33,9).

Một số dân tộc có tỷ lệ xem được Đài THTW hoặc đài truyền hình tỉnh thấp dưới 50% là Mảng (37,7), La Hủ (42,3), Lô Lô (44,6), Khơ mú (56,4).

Có 37,5% số thôn bản chưa có nhà văn hóa; 42,8% số Thôn chưa có Loa Phóng Thanh

3-     Điều kiện Đời sống của người Dân quá khó khăn

Kết quả điều tra cho thấy hộ dân tộc thiểu số ở nhà tạm chiếm đến 15,3%, cao hơn so mới mức 9,6% của cả nước. Có khoảng 72% hộ dân tộc thiểu số không sử dụng hố xí hợp vệ sinh, thấp hơn đáng kể so với trung bình cả nước  là 29 %). Một số dân tộc có tỷ lệ rất thấp (dưới 10%) là: Xinh Mun (2,3), La Hủ (2,7), Chứt (3,3), Khơ mú (4,4), Bru Vân Kiều (6,6), Mảng (6,6), Mông (7,0), Brâu (8,2), Gia Rai (8,5), Kháng (9,7).

Số liệu sơ bộ tỷ suất chết thô của dân số thuộc các dân tộc thiểu số là khoảng 7,28 người chết/1000 dân số, cao hơn so với mức chung của toàn quốc năm 2015 (6,81 người chết/1000 dân số).

Những rào cản đó làm cho Quyền phát triển của các dân tộc thiểu số bị hạn chế rất lớn, vì vậy mà vùng dân tộc thiểu luôn là vùng nghèo nhất của cả nước.

 Câu 4: Thực tế cho thấy, hiện nay, nhận thức của các cấp, trong đó có cả cấp chiến lược về đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều vấn đề chưa đúng. Theo Tiến sĩ, “rào cản” này có ảnh hưởng như thế nào trong việc thực hiện quyền con người vùng dân tộc và miền núi?

 Trả lời : Một rào cản cũng không kém phần gay gắt đó chính là những những nhận thức chưa đúng của nhiều người trong đó có cả cán bộ ở cấp chiến lược, anh em làm công tác báo chí, truyền thông.

 Cán Bộ Và đồng bào người dân tộc thiểu số không đồng tình khi một loạt các vấn đề đều gán cho người dân tộc thiểu số : Buôn Ma túy, Phá Rừng, Di cư tự do, uống rượu, lười nhác, ỷ lại. Người miền xuôi gán cho các từ : Đâm Trâu, Chợ tình, Tao, mày… hoàn toàn xa lạ với văn hóa các Tộc người.

  Tôi cho rằng những nhận thức lệch lạc, có lúc đã trở thành định kiến này làm cho cách tiếp cận xây dựng chính sách cũng như tổ chức thực thi chính sách chưa tạo được sự đồng thuận trong cộng đồng các dân tộc thiểu số.

 Câu 5: Theo Tiến sĩ, trong công cuộc phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN hiện nay, Đảng, Nhà nước cần phải làm gì để đảm bảo và thúc đẩy quyền của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam?

Trả lời : Tôi nghĩ là phải tiến hành đồng bộ , toàn diện hệ thống các giải pháp, phải xác định làm kiên trì, làm lâu dài, nhưng trước mắt nên tập trung vào các nhiệm vụ sau :

1. Nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí phân định tỉnh nghèo, huyện nghèo, xã nghèo, thôn, xã đặc biệt khó khăn, để áp dụng các định mức hỗ trợ giảm nghèo công bằng giữa các địa phương

2. Tổng hợp, rà soát hệ thống chính sách hiện hành nhằm loại bỏ các chính sách trùng lắp, chồng chéo; Bổ sung, sửa đổi các chính sách không còn phù hợp với tình hình thực tế. Giảm các chương trình mục tiêu quốc gia, giao các chính sách cho Bộ, ngành quản lý theo chức năng. Hợp nhất các chính sách dân tộc của từng Bộ, ngành quản lý thành một văn bản chung. Nghiên cứu, xây dựng các chính sách mới phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ giai đoạn tới. Xây dựng các mô hình phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với đặc thù từng vùng.

3. Trên cơ sở kết quả rà soát, nghiên cứu xây dựng chính sách đa mục tiêu, dài hạn, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đất nước, theo đặc thù từng vùng miền. Xác định rõ chính sách hỗ trợ phát triển và chính sách bảo trợ xã hội cho từng đối tượng. Áp dụng hệ số ưu tiên cho vùng khó khăn trong việc phân bổ nguồn lực thực hiện chính sách. Tăng cường phân cấp mạnh cho địa phương.Tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội cho vùng dân tộc thiểu số; tiếp tục giải quyết nhu cầu thiết yếu của đồng bào như: đất ở, đất sản xuất, nhà ở, nước sinh hoạt, đào tạo nghề và tạo việc làm nâng cao thu nhập, cho vay tín dụng; phát triển nguồn nhân lực; tăng khả năng tiếp cận dịch vụ của người dân về y tế, giáo dục, văn hóa và môi trường. Hạn chế tình trạng di cư tự do và những ảnh hưởng xấu do biến đổi khí hậu tại vùng dân tộc và miền núi. Có chính sách khuyến khích thoát nghèo bền vững.

4. Thể chế quan điểm ưu tiên cho chính sách dân tộc, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng dân tộc và miền núi thành Luật, có những quy chuẩn cụ thể, làm cơ sở xác định mức độ ưu tiên trong từng chính sách, nhất là các chính sách do các Bộ, ngành quản lý. 

5. Nghiên cứu cơ chế điều phối và giám sát sự phối kết hợp giữa các Bộ, ngành trong việc hoạch định, xây dựng, phân bổ ngân sách và hướng dẫn thực hiện chính sách dân tộc.

6. Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động người dân hiểu, nắm chắc và chủ động tích cực tham gia xây dựng, tổ chức thực hiện và giám sát chính sách. Nâng cao ý thức tự lực vươn lên thoát nghèo bền vững của người dân.

 

 

Gửi bình luận của bạn
x