Văn -Thơ

NGƯỢC LÊN BẢN KHUỔI KHON

27-12-2016 - 21:36 - 260 lượt xem

Bút ký của nhà văn Đoàn Ngọc Minh

 

 

            Dự định một chuyến vào huyện Bảo Lạc (Cao Bằng) đã khá lâu nay tôi mới thực hiện được. Khi buổi bình mình còn lờ mờ tôi đã đón chiếc xe khách ba mươi chỗ vào Bảo Lạc; thời buổi kinh tế thị trường nên các nhà xe đều chỉn chu phương tiện của mình sao cho đắt khách, cũng máy lạnh, dàn nhạc xập xình, thái độ của nhà xe cũng cởi mở nhiệt tình hơi cái thời bao cấp – thời mà nhà xe là “thượng đế” chứ không phải khách là “thượng đế” như bây giờ; do gọi điện thoại từ hôm trước nên mặc dù hôm nay xe chật khách, (có mấy ông khách phải đứng vì hết chỗ) nhưng chủ xe – một phụ nữ dáng nhỏ nhắn, nhanh nhẹn giọng nói rất nhẹ nhàng “chị lên sau lái đi chỗ ấy dành cho chị đấy”. Tôi gật đầu cảm ơn ngồi vào chỗ của mình; trên xe thôi thì đủ thứ chuyện đông tây kim cổ, kẻ nói ở thị trấn nọ cách đây mấy hôm có thằng nghiện chết trong tư thế ngồi bên vệ đường, sáng hôm sau có người đi chợ sớm mới phát hiện ra mà thằng đó lại là con trai độc nữa chứ! người than thở: dạo này buôn hoa quả tàu ế ẩm quá...tôi tựa vào thành ghế ngắm nhìn Quốc lộ 34 từ thành phố Cao Bằng vào huyện Nguyên Bình sau mấy năm thi công nâng cấp giờ xe đi êm như ru; có thể nói con đường vào Nguyên Bình này là một trong những tuyến đường đẹp nhất tỉnh Cao Bằng. Tiết cuối thu, xe chạy từ lúc 6 giờ nên gần đến Nguyên Bình sương vẫn lấp kín những cánh rừng sau sau, rừng cây mỡ thân trắng và thẳng tắp. Thấp thoáng đã có vòm cây chuyển màu đỏ thẫm “bật nhạc lên nào ông tài ơi”. Có tiếng gọi từ hàng ghế sau. Tiếng nhạc xập xình nổi lên, ông tài là con của chị chủ xe nên còn trẻ lắm, vừa lái cậu vừa gật gù theo tiếng nhạc poop rộn ràng. Tôi đang lim dim thả hồn bỗng có tiếng: “két”, xe dừng lại, cánh cửa xe tự động mở. Chị chủ xe vừa bước xuống vừa nói to:

            - Đến Ca Thành rồi mời hành khách xuống ăn sáng mười lăm phút nhé!

          - Đến Ca Thành rồi sao? Nhanh thế!

          Khách vừa lục tục xuống xe vừa lao xao. Tôi là người xuống sau cùng. Ca Thành là một thị tứ nhỏ ráp ranh giữa huyện Nguyên Bình và huyện Bảo Lạc. Tôi không ăn sáng (vì đã ăn ở nhà) mà tha thẩn đến bên những lồ rau cải trắng, cải xanh, su su, đậu Hà Lan, bí ngô, củ cải...của đồng bào Dao Tiền từ trên núi xuống bán, có người còn địu cả con trên lưng, họ đon đả mời mua, giá cả rẻ hơn rất nhiều so với ở chợ thành phố “rau cải này có bón đạm hay phun thuốc không?”. Tôi cầm cây rau cải bẹ trắng mơn mởn dài có đến hơn nửa mét hỏi. “Không...không có thuốc gì đâu...chỉ có đất trên nương thôi”. Cô gái Dao Tiền dong dỏng cao nước da mịn màng xua tay thật thà. “ Thôi được hôm tới ra tôi sẽ mua nhé”. Khách lại kéo nhau lên xe. Tia nắng đầu tiên buổi lê minh trong suốt như pha lê rọi xuống thung lũng mờ sương. Lạnh quá. Hành khách suýt xoa. Ca Thành gần thung lũng Thin Tốc ( tiếng Tày gọi là đá rơi chính là Mỏ thiếc Tinh Túc) một trong địa danh lạnh nhất của tỉnh Cao Bằng. Từ Mỏ thiếc Tinh Túc vào Bảo Lạc đường đã bị xuống cấp, con đèo Cao Sơn quanh co chênh vênh bên vách núi, bên vực sâu, nhiều đoạn cua tay áo vừa hẹp vừa lởm khởm xe cứ chao đảo như kẻ say, nhìn ông tài tuy còn trẻ nhưng xem ra cũng có bản lĩnh nghề nghiệp, mặt cậu ta bình thản, hai tay bám chắc vô lăng thận trọng tránh những ổ gà, ổ trâu tôi cũng thấy an lòng. Dọc đường từng đống đá được đổ thành dãy, vậy là tuyến Quốc lộ 34 đi hai huyện Bảo Lạc, Bảo Lâm (giáp Hà Giang) đã được sửa chữa nâng cấp. Tuyến đường này do địa thế hiểm trở nên hầu như không có các loại xe tải trọng lớn chạy, chỉ có các loại xe tải hạng nhẹ chở hàng và xe khách (hàng hóa đa phần được chở từ Hà Giang sang), chốc chốc những chiếc xe máy của các gã trai bản đầu không mũ bảo hiểm phóng như đua xe để lại phía sau làn bụi mù mịt, có xe còn kẹp ba ào ào lướt như thể trên con đường này chỉ có bọn họ lưu thông “thật là ghê quá”. Tôi lẩm bẩm nổi cả da gà. Không hiểu việc tuyên truyền đội mũ bảo hiểm cho người tham gia giao thông ở huyện này có được xúc tiến thường xuyên không? Phần do trình độ dân trí còn thấp phần họ không hiểu (hay không muốn hiểu) nếu có sự cố tai nạn xảy ra thì với tốc độ phi mã và cái đầu trần thế kia thì hiểm họa sẽ khôn lường! Lan man nghĩ, tôi không để tâm đến việc lâu lâu xe lại dừng để khách lên xuống nữa mà cứ bị ám ảnh bởi những chiếc xe lao như điên cùng những mái tóc bạt theo chiều gió ấy...

          Xe đến chợ Bảo Lạc thì mặt trời đã giữa đỉnh đầu. Hôm nay chợ phiên nên xe đông là phải, mọi người hối hả xách đồ xuống xe, nắng hiu hiu soi xuống mặt nước sông Neo lấp lánh như dát bạc, người ta mua bán ngay cả trên chiếc cầu nhỏ cong cong bắc qua sông Neo, bên kia sông là các cơ quan hành chính huyện; chợ phiên vãn sớm hơn mọi khi bởi người dân đang sản xuất vụ đông; người dân trong vùng đến chợ vội mua vội bán để còn về kịp cày xới khi tiết trời còn đang hanh khô. Tuy vậy, thấp thoáng vẫn có những người đàn bà Sán Chỉ, Lô Lô áo quần thêu sặc sỡ đeo túi nải sau lưng như balo quẩn quanh bên những sạp hàng quần áo, dầu, muối...những gã đàn ông mặt đỏ gay rôm rả trong quán rượu; góc cuối chợ là chợ bò, những con bò màu vàng màu đen nép dưới chân núi đá chờ chủ mới dắt đi, tôi nhận thấy lúc này người mua thì ít người chiêm ngưỡng đàn bò cũng không nhiều; có lẽ cả chủ và khách đang cùng chém gió trong mấy quán rượu nhỏ cạnh đấy! ở Cao Bằng có không ít chợ trâu bờ, nhưng có lẽ độc đáo nhất chỉ có chợ bò ở Nà Giàng (Hà Quảng) cứ mỗi phiên chợ họ lại dắt bò xuống chợ để khoe chứ không bán! Người đến ngắm nghía những chú bò mộng đông như hội...xế chiều chợ vãn, chủ lại dắt bò ngược núi về bản! Có thể coi đây là bản sắc của một phiên chợ trong vùng được chăng?

          Sớm hôm sau tôi nhờ một người em họ đưa xe máy ngược Quốc lộ 34 từ thị trấn Bảo Lạc ra khoảng chín cây số đến lối rẽ lên một con dốc lởm khởm đá bên trái đường cậu em đột ngột dừng xe ngó vào túp lều lụp xụp ven đường hỏi: “ Anh ơi có phải đường rẽ lên bản Khuổi Khon đây không?”; “đúng rồi ngược dốc lên khoảng bốn cây nữa thì đến”. Người đàn ông mặc bộ đồ xanh công nhân đứng trước cửa túp lều gật đầu. “ Cảm ơn anh”. Chiếc xe Future rú ga leo dốc. “ Công nhân làm gì ở đây vậy?”. Tôi hỏi. “ Họ khai thác đá cho doanh nghiệp H. ấy mà”. Cậu em gài số hai leo dốc, chiếc xe nảy chồm chồm trên những hòn đá to cỡ nắm tay thậm chí còn to hơn, có lúc lại men theo chiếc rãnh nhỏ vừa đủ đặt lốp xe, đó là vệt mòn của những chiếc xe máy đi qua đi lại, chỉ có thể bám theo vệt đó mà đi, bởi những ụ đất như sống voi chạy dài giữa mặt đường, mặc dù con đường này xe ô tô đi được. Cũng may trời hanh khô chứ nếu mưa thì may ra dân bản địa đi được vì mặt đường ngoài đá lổn nhổn là đất đỏ quạch. Mặt đường quá xấu, đá gan gà nhô lên lõm xuống, đá tai mèo cạnh sắc như dao chạy ngang mặt đường, phải tay lái lụa mới dám đi; có lúc chiếc xe gần như bị nghiêng xuống “chị cứ ngồi yên bám chắc vào”; cậu em rồ ga nhắc tôi; ngồi sau xe tôi mung lung nghĩ, nếu xe đổ mình có kịp nhảy ra không nhỉ? Càng đi lên cao đường càng khó đi, con đường lên bản Khuổi Hon cắt ngang thung lũng những mảnh ruộng bậc thang vừa gặt xong, người dân xếp những cột rơm cao như cái tháp; đàn bò đủng đỉnh nhai rơm; bên dưới đường và bên kia thung lũng ruộng bậc thang đẹp lượn sóng từ chân núi lên đến đỉnh, từng đàn chim ri sà xuống ruộng, những chú cu cườm đậu trên bờ ruộng gù gù...tôi bảo cậu em dừng xe, chớp lấy mấy kiểu ảnh, bỗng dưng tôi lấy làm tiếc tại sao cánh nhiếp ảnh cứ phải sốt sắng đi tỉnh nọ tỉnh kia để kiếm ảnh đẹp? Sao họ không lặn lội vào vùng tộc người Lô Lô sinh sống này để có cơ hội tạo được những bức ảnh ưng ý? Sắc màu của không gian núi rừng trùng điệp, của mùa lúa chín vàng, xen lẫn sắc màu những chàng trai cô gái Lô Lô áo chàm hoa văn đang mải mê gặt hái giữa vụ mùa chẳng phải là bức tranh hoàn hảo hay sao? Nắng hiu hiu trườn qua màn sương hắt xuống cánh rừng điệp trùng màu hồng hồng nhưng vẫn không bớt đi cái lạnh của miền rừng, phong cảnh  của tạo hóa sắp đặt giữa thung lũng bậc thang, cánh rừng ngút ngàn, vách núi nghiêng nghiêng đã ban cho tôi những bức ảnh khá ưng ý!

          Mặt đường gồ ghề những đá là đá, đi có hơn chục cây số mà mãi đến mười giờ chúng tôi mới tới đầu bản Khuổi Khon, một chiếc xe ô tô bảy chỗ hiệu Futuner màu ghi đỗ ngay vệ đường “ xe chở người nước ngoài đấy”. Cậu em vừa tìm chỗ đỗ xe máy vừa giải thích. “ Sao? Có người nước ngoài đến tận bản xa này à?”; tôi nghi hoặc. “Vâng...nghe nói họ còn đưa học sinh cấp hai đi xuống trung tâm ngoại ngữ ở Hà Nội đào tạo tiếng Anh đấy...à...thế chị có cần gặp lãnh đạo xã Kim Cúc không?”; “Không...tôi có giấy tờ tác nghiệp đây rồi!”. Xã Kim Cúc trước đây thuộc xã Hồng Trị của Bảo Lạc được tách ra trong mấy năm gần đây. Một tấm pano in địa hình bản Khuổi Khon màu xanh lam được chú thích bằng tiếng Anh dựng ngay lề đường vào bản. Tôi thận trọng đặt từng bước chân trên những phiến đá lưa thưa lát trên con dốc nhỏ, nếu không sẽ dẫm phải bùn nước lõm bõm, mùi phân gia súc, gia cầm bốc lên nồng nặc, bản Khuổi Khon 100% là tộc người Lô Lô có 56 hộ với gần 300 nhân khẩu, tụ thành từng chòm dăm, ba nóc nhà chênh vênh từ sườn núi lên ngọn núi; nơi đây hầu hết là những nếp nhà sàn cũ kỹ nhưng khá rộng mái lợp ngói âm dương rêu phong mốc thếch; những hàng rào bằng thân cây nhỏ quây kín xung quanh nhà; giờ này người lớn đều lên nương, ra đồng cày xới vắng tanh; tôi gặp một cụ bà trạc ngoài bảy mươi tuổi vai gánh lỉnh kỉnh những chiếc vỏ chai nhựa đựng nước ngọt cỡ một lít, tay cắp chiếc chậu nhựa đựng đầy quần áo:

          - Cháu chào cụ...cụ đi giặt ạ?

          Cậu em phiên dịch lại rằng: bà đi xuống khe lấy nước tiện thể giặt quần áo luôn. Tôi xin phép chụp cho bà một kiểu ảnh. Cậu em lại phiên dịch. Bà cụ gật đầu cười. Ngược con đường mòn đi tiếp lên bản, những khóm bương cao vút tạo thành một khoảng bóng mát rộng; trong bản có cây vải cổ thụ cao gần hai chục mét sum xuê, tôi bấm máy xong cậu em bảo: tộc người Lô Lô ở đây họ thờ cây vải và coi loài cây này là cây thiêng đem lại may mắn cho dân bản...họ chỉ tặng cây vải giống cho những người mà họ quí! mấy đứa trẻ đang mải loay hoay chơi trò xếp những hòn đá nhỏ làm hàng rào chơi cạnh lối đi, đứa đội mũ nhưng lại cởi quần, đứa mặc quần lại không có áo, chân thì đi đất nhem nhuốc. Thấy có khách lạ, đứa bé nhất khoảng hai tuổi òa khóc lập cập quay lưng chạy. Trẻ con vùng cao thiệt thòi nhiều quá, chúng không có chỗ để chơi, không đủ áo quần để mặc. Chúng làm sao đủ áo ấm cho cái rét cắt da cắt thịt? nếu cứ mặc phong phanh như thế này liệu chúng có chống chọi được không? Bất giác tôi thở dài và nảy ra ý tưởng: Về nhà sẽ mời các văn nghệ sĩ quyên góp áo quần chống rét và đưa vào trong này cho bà con! Bước chân tôi trở nên nhẹ tênh. Chợt tôi gặp một cậu thanh niên đeo balo đi từ trong bản ra phía sau là một người đàn ông và một phụ nữ người nước ngoài cao lớn họ cũng đeo balo thong thả bước trên những phiến đá nhỏ:

          - Hello...where are you from? (xin chào, bạn là người nước nào?). Tôi hỏi.

          - I’m from She’s French! And you? (Tôi là người Pháp thế còn bạn?) Ông khách nhìn tôi mỉm cười.

          - I’m from Cao Bằng. Thanks you! (Cảm ơn tôi là người Cao Bằng). Tôi vui vẻ.

          - Bye! (Tạm biệt). Bà khách đi sau gật đầu chào tôi rồi rảo bước.

          - The best of luck! bye... (Tạm biệt...chúc may mắn); tôi vẫy tay theo.

Thì ra họ là người Pháp. Vừa tìm chỗ đặt bước chân tôi vừa nói với cậu em đang đợi tôi ở gờ đá phía trên, lâu không đi bộ mà lại leo lên dốc, mùi bùn trộn lẫn phân bò, phân lợn xộc vào mũi vừa mệt vừa khó chịu. Đến một nếp nhà sàn rộng rãi có treo tấm băng rôn cũng màu xanh lam ghi bằng tiếng Anh treo ngay trên cửa: tua du lịch sinh thái. Dưới gầm sàn một đôi vợ chồng trẻ đang quét dọn sạch sẽ, góc bên phải sàn nhà, chuồng lợn xây gạch thô nhốt dăm con lợn ta béo ục ịch. Sau khi nghe cậu em giới thiệu họ mời chúng tôi lên nhà. Hai vợ chồng đều nói tiếng Kinh rất sõi, “cô ấy là con gái ông Chi Viết Hải dân tộc Lô Lô, Phó Bí thư Đảng ủy xã Kim Cúc, bà bá (chị gái ông Hải) là bác sĩ Chi Thị Lan nổi tiếng của huyện Bảo Lạc về tay nghề đấy”. Cậu em họ chỉ tay lên những tấm bằng khen, Huân, Huy chương của bà Lan và ông Hải treo trên vách nhà giới thiệu. Cô Chi Thị Duyên, con gái cả ông Hải dong dỏng cao (phụ nữ Lô Lô thường có dáng đẹp) nước da bánh mật, cặp mắt sáng lanh lợi và nụ cười duyên vẻ thẹn thùng khi tôi hỏi: ‘Vợ chồng em được mấy cháu rồi?; “em sinh được ba cháu...cháu lớn đang học ở trường nội trú huyện”; “Năm nay em bao nhiêu tuổi?”. “Em ba mươi tuổi”. Người mẹ trẻ cúi đầu mân mê chiếc thắt lưng hoa văn dường như muốn giấu đi cái ngượng ngùng. Nét xuân sắc đã sớm tàn phai trên khuôn mặt trái xoan nâu rám của em. Trên đầu em quầy (Duyên bảo là quầy khăn chứ không phải đội khăn hay vấn khăn như các tộc người khác thường nói) khăn vải chàm, em quầy thành nếp trông như cánh hoa xếp lại. Trong khi cậu em vui vẻ uống rượu, chuyện trò cùng anh Chi Văn Bình – chồng của Duyên ở bàn nước thì Duyên kể: Em học hết cấp hai thì nghỉ học là con gái cả nên ở nhà lấy chồng thôi. Lúc này tôi nhìn cặp mắt long lanh của Duyên và nhận thấy trong cái lấp lánh ấy có cái gì đó phảng phất buồn; có thể Duyên cũng có ước mơ lắm chứ! Như người bác ruột đã từng là nữ bác sĩ có tay nghề giỏi đó thôi. Chế độ mẫu hệ của tộc người Lô Lô vùng này vẫn được coi trọng. Gia đình Duyên có ba chị em gái, Duyên là con gái cả nên chồng cô phải ở rể... “chồng em người cùng bản à”. “Vâng...nhà anh Bình ở gần đây thôi, mẹ chồng em là người Kinh ở Hải Dương đấy”. “Thảo nào bọn em thạo tiếng Kinh thế”. “Ngày xưa chống Mỹ bố em đi bộ đội đóng quân ở Hải Dương...khi bố trở về mẹ đã theo lên làm đám cưới...”; ngày ấy bản Khuổi Hon chắc chắn còn hoang sơ hơn bây giờ nhiều, làm gì có đường ô tô? Làm gì có thủy điện nhỏ thắp sáng? Vậy mà cô gái Hải Dương ấy đã vượt qua bao dốc đèo, núi non, rào cản ngôn ngữ, hủ tục để lên với chàng trai Lô Lô xây tổ ấm ở cái bản chót vót quanh năm sương phủ này, trời đã ban cho họ 3 nàng công chúa thật là một mối tình ít người dám...mơ! tôi đưa mắt quan sát khắp căn nhà, một không gian rộng hàng trăm mét vuông, sàn nhà lát sạp cây tre, vách nhà thưng bằng gỗ xẻ; phía tay phải từ cửa vào nhà dành cho khách du lịch, chăn chiếu được xếp ngăn nắp. Bóng điện com pak 15 oát đui xoắn treo ngay cạnh cột cái gần bàn nước nhỏ rọi xuống ánh sáng nhờ nhờ. Bên cạnh bàn là bếp lửa đang đỏ rực. Trên bếp lửa được treo một khung gỗ nào chùm tỏi, túi đỗ...và nhiều thứ lặt vặt khác bám mồ hóng đen xì, ngoài ra còn một nửa con cá chép to cỡ bàn tay hun khói lủng lẳng. Người Tày, Nùng thường mỗi khi năm hết tết đến họ hay mổ lợn và xả thịt thành từng miếng to bằng hai ngón tay dài theo thớ thịt đem ướp rượu, muối, gừng và làm lạp sường hun khói, riêng cá hun khói thì đây là lần đầu tiên tôi thấy.

- Nhà mình không có ti vi à em? Tôi thắc mắc.

- Chưa ạ...vì chưa có điện lưới! Chồng của Duyên trả lời thay vợ.

- Thế điện này là...

- Điện thủy lợi nhỏ của bản tự làm dưới khe chỉ để thắp sáng được thôi! Anh chồng vừa rót nước mời khách vừa nói.

          Tôi không khỏi ngạc nhiên, một bản vùng cao có đường ô tô gần đến nơi vậy mà vẫn chưa có điện lưới, nước sinh hoạt cũng còn khan hiếm vậy khách nước ngoài sao họ lại thích đi tua vào đây?

          - Khách nước ngoài có hay đến bản ta không em? Tôi tò mò.

          - Có chị ạ...mỗi ngày khoảng 2 tua.

          - Thường họ có nghỉ lại không?

          - Cũng có nhưng không nhiều, họ chỉ nghỉ ở nhà bọn em và những nhà phía trên cao thôi.

          - Sao vậy?

          - Là vì nhà bọn em trên này có nước từ khe núi chảy ra...còn những nhà dưới kia thì không có nước nên họ không nghỉ. Duyên phân trần.

          - Vậy mình lấy tiền nghỉ bao nhiêu?

          - Tiền nghỉ thì do Công ty Amika và Công ty du lịch Á Châu thu nếu tua ít thì một trăm ngàn một người, tua đông khách thì bảy mươi ngàn một người...vì chăn chiếu là do họ đầu tư! Giọng Duyên nhỏ hẳn.

          Được biết Công ty Amika đã đầu tư cho bản một nhà văn hóa cộng đồng kiểu nhà sàn rộng khoảng 100 mét vuông.

          - Thế bản mình có làm đồ lưu niệm gì cho khách không? Tôi nhìn Duyên hỏi.

          Duyên vội đứng dậy vào buồng cầm ra hai chiếc túi vải chàm hình mảnh trăng khuyết được xếp thành múi như múi quả rất cầu kỳ, viền quanh miệng túi được thêu hoa văn sặc sỡ, quai túi được xe bằng sợi len xanh đỏ trông rất lạ mắt; “ túi này dùng dể đựng trầu...cả bản chỉ một mình mẹ em biết gấp thôi” Duyên khoe thêm: Mọi người khâu túi đều phải đến nhờ mẹ em gấp cho đấy! Tôi cầm chiếc túi lên ngắm nghía, quả là tôi chưa từng thấy chiếc túi nào được xếp thành múi cầu kì và hình trăng khuyết như thế này. “Chiếc túi này bán được bao nhiêu hả em”. “ Hai trăm ngàn chị ạ”; “ thế còn những mảnh vải hoa văn này?”; Tôi cầm những mảnh vải hoa ngũ sắc ghép lại bằng chỉ thêu khá bắt mắt lên hỏi. “mảnh này là tay áo đấy...một trăm ngàn một mảnh”. Duyên chìa tay áo cô đang mặc ra cho tôi so sánh, “còn mảnh này được thêu sau sống lưng áo”. Duyên quay lưng lại cho tôi xem mảnh hoa văn gắn dọc sống lưng áo. Mỗi tộc người Việt Nam đều có cách trang trí hoa văn riêng cho trang phục của mình và đều có vẻ đẹp rất riêng.  “Ngày bán được nhiều không em”. “Ít thôi chị ạ...” Duyên chợt nhìn ra ngoài như đang mơ về một điều gì đó vời xa...

Bản Khuổi Hon vẫn còn hoang sơ lắm, đường xá đi trong bản của 56 nóc nhà vẫn lộc ngộc đá và bùn...vệ sinh môi trường cũng chưa bảo đảm, lợn gà còn thả rông. Không biết bao giờ dự án 135, 136...mới về đến bản? Bởi vậy ngoài cuộc sống còn muôn vàn khó khăn, thiếu thốn, trẻ con đi học xa bốn, năm cây số thì việc nắm bắt thông tin với họ cũng còn mịt mù. Thu nhập chính của họ từ chăn nuôi và trồng cấy. Nguồn nước phụ thuộc vào thiên nhiên, mùa khô nước vô cùng hiếm hoi, dân bản phải xuống dưới thung sâu để cõng nước về sinh hoạt. Thế nhưng nhờ đức tính cần cù, chịu khó nên các gia đình trong bản gần như cũng đủ ngô lúa để ăn và thu nhập thêm từ chăn nuôi bò đàn và gia cầm. Các hủ tục lạc hậu dần được gạt bỏ, đám ma họ chỉ để trong nhà ba ngày và đưa đi chôn; cưới xin thì họ vẫn giữ được tục thách cưới của nhà gái: Một trăm cân gạo, trăm lít rượu, trăm cân thịt lợn...nếu gia đình nào khá giả thì khi con gái về nhà chồng hoặc lấy rể sẽ được tặng một chiếc kiềng bạc (vòng cổ) hoặc một vòng bạc đeo tay. Điều thú vị là bộ quần áo ngày cưới của cô dâu được chính tay mẹ đẻ thêu và khâu cho, dù con gái Lô Lô ai cũng biết nhuộm chàm dệt vải, thêu thùa. Họ quan niệm, bộ quần áo cưới là kỉ vật thiêng liêng gắn với tình mẫu tử được con gái mang theo để ghi nhớ công ơn đấng sinh thành! Duyên bảo: Hiện cả bản chỉ còn 4 nhà (trong đó có gia đình Duyên) là nhuộm chàm và tự dệt vải, còn lại họ đều đi mua vải về khâu quần áo.

Chia tay bản Khuổi Hon cái nắng đông đã chênh chếch ngọn cây; sương đã tan hết, bầu trời trong xanh không gợn mây, dẫu vậy cái lạnh vẫn tê tái. Từng tốp dân bản vác cuốc, cày và dong đàn bò về. Bất chợt tôi nghĩ: Giá như các Công ty Du lịch đầu tư cho bản về một số đồ dùng sinh hoạt, còn dân thì dành một phần nhà ở cho khách nghỉ, nếu như hai bên thỏa thuận chia lợi nhuận thì dân bản Khuổi Khon đương nhiên sẽ mặn mà với khách du lịch chứ không như hiện tại được chăng hay chớ! Đồng thời các tổ chức như Chi hội Phụ nữ, Nông dân, Mặt trận...nên quan tâm đến công tác vệ sinh môi trường, động viên các hộ đóng góp một khoản tiền để cải tạo con đường vào bản dù không khang trang nhưng bằng phẳng dễ đi lại và sạch sẽ, khi đó khách du lịch nước ngoài và trong nước sẽ tìm đến nhiều hơn...từ đó các dịch vụ phục vụ cho khách du lịch cũng sẽ phát triển, tăng thu nhập cho người dân bản Khuổi Khon xa lắc này. Tôi nén thở dài, ngửa mặt nhìn lên bầu trời trong veo thầm ước một ngày nào đó trở lại, bản Khuổi Khon sẽ là bức tranh đẹp chứ không phải là bức tranh phác thảo như những ngày cuối năm này./.

 

                                                                                            Khuổi Hon, 2016

 

Gửi bình luận của bạn
x