Tôn giáo

Nghiên cứu đối sách với tôn giáo Tây Tạng

20-05-2017 - 20:09 - 945 lượt xem

Trường Đảng Khu Tự trị Tây Tạng - Biên dịch : Nguyễn Ngọc Điệp

 

Khu Tự trị Tây Tạng có diện tích 1,2 triệu km2 , dân số 3 triệu người, thủ phủ Lahsa. Tây Tạng (TT) là vùng dân tộc mà tín ngưỡng tôn giáo mang tính quần chúng. Nhận thức đúng và xử lí tốt các vấn đề tôn giáo ở TT hiện nay, là một vấn đề quan trọng trong sự nghiệp xây dựng XHCN mang mầu sắc TQ, có ý nghĩa cực kì to lớn đối với việc duy trì ổn định xã hội ở khu vực TT và cũng có nghĩa là đối với toàn quốc, với việc tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc và phát triển kinh tế vùng TT.

1/ Những vấn đề mới về tôn giáo TT. Tôn giáo TT, chủ yếu là Phật giáo Tạng truyền ( PGTT), còn có một số ít trong dân tộc Naxi  có tín ngưỡng Thiên chúa giáo, một số ít dân tộc Hồi cư trú trong thành phố theo Ixlam giáo. PGTT chia thành 4 giáo phái lớn là : Nyingma ( Hồng) , Sakya( Hoa), Kagyu ( Bạch), Gelug ( Vàng). PGTT là sản phẩm trong một giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử trong xã hội TT, có ảnh hưởng lớn lao và sâu sắc đến từ cội nguồn các dân tộc TT. Ngay từ thế kỉ thứ 9, khi mà ở TT bắt đầu xuất hiện tình trạng cát cứ phong kiến, là lúc Phật giáo từng bước nhận được tín ngưỡng rộng khắp trong quần chúng, các giáo phái PGTT bắt đầu hình thành. Các thế lực cát cứ phong kiến TT dần dần kết hợp mật thiết với PGTT, thành một lực lượng thống nhất. Trong quá trình phát triển về sau, PGTT dần tham gia vào chính quyền, hình thành nên một chế độ đặc thù “ Chính quyền và Giáo hội hợp nhất”. Chế độ này tồn tại đến năm 1959 mới bị xóa bỏ ( ghi chú của nd : năm 1913 TT tuyên bố độc lập, 22/2/1940 Đạt-Lai-Lạt –Ma 14 lên ngôi, với tư cách là người đứng đầu Chính phủ TT. Năm 1959, quân đội TQ tiến hành giải phóng hòa bình TT, chính quyền TT do Đạt Lai Lạt Ma đứng đầu  rời TT, sang sống lưu vong trên đất Ấn Độ, tại thị trấn Dharamshala- dưới chân núi Himalaya miền bắc Ấn Độ . Đạt Ma 14 sinh năm 1935, năm nay 92 tuổi, năm 1989 Ông được tặng giải thưởng Nô ben hòa bình, năm 2007 được tổng thống Mỹ-W Bush trao tặng huy chương vànggiải thưởng cao quí nhất của nước Mỹ). Phật giáo Tạng truyền có lịch sử lâu đời ở TT, nơi có quần chúng tín đồ phát triển rộng khắp , kinh tế TT lại rất lạc hậu so với các khu vực khác, đời sống của đa số nhân dân  thấp, do đó, quần chúng nhân dân chỉ còn biết gửi gắm một cách mù quáng vào tinh thần tôn giáo.Trong khi đó công tác quản lí tôn giáo của chính quyền các cấp lại không theo kịp, nhất là do những quyết sách sai lầm tai hại thời “Cách mạng Văn hóa”( 1966-1976), thêm nữa, Tập đoàn Đạt Lai Lạt Ma lợi dụng tôn giáo tiến hành các hoạt động nhằm chia cắt TQ , đặt TT đối mặt với những vấn đề mới sau đây:

1.             Một số khu vực, chùa chiền phát triển quá nóng đến mức không thể kiểm soát được, các chùa chiền tiếp nhận số lượng tăng ni tăng vọt, đột biến , mặc dù chính quyền địa phương đã cung cấp đủ chỗ cho các hoạt động tôn giáo , bảo đảm phù hợp với chính sách tôn giáo của nhà nước. Nhưng từ đầu những năm 80 của thế kỉ trước, chùa chiền lại phát triển ào ạt , làm tiêu hao một lượng lớn nhân lực tài lực vật lực, trên một trình độ nhất định đã ảnh hưởng đến việc phát triển kinh tế xã hội trong vùng. Đến những năm 1990, tuy không ồ ạt như trước, nhưng mỗi năm cũng phát triển trên 100 chùa. Năm 1990, toàn TT có 1353 chùa, đến 8/ 1994 có 1743 chùa. Riêng thành phố Lasha , năm 1990 có 115 chùa, đến 8/1994 có 248 chùa, nhiều chùa chưa được phép phê chuẩn đã xây dựng. Sự phát triển vô trật tự chùa chiền đã mang lại nhiều khó khăn cho công tác quản lí, nhất là với thủ phủ Lasha. Các phần tử theo chủ nghĩa phân liệt , đã dựa vào số ít các cơ sở làm điểm tựa, tiến hành các hoạt động phân liệt, làm cho các biện pháp quản lí của chính quyền trở nên bị động.

 Cùng với hiện tượng phát triển ồ ạt chùa chiền, hoạt động kết nạp ồ ạt tăng ni của các chùa cũng trở nên đột xuất. Năm 1990, tăng ni toàn khu có 42.190 người, đến 8/1994 có 46 380 người. Riêng Lasha, năm 1990 có 4324 tăng ni, đến 8/1994 có 9189 tăng ni , vượt chỉ tiêu biên chế 44,7%. Mặc dù các cơ quan quản lí đã có những qui định cụ thể về số lượng tăng ni cho các chùa, nhưng khi các chùa tiếp nhận loạn tăng ni thì các cơ quan xử lí lại không đủ mạnh, nhất là với các chùa ở vùng cực xa .Hiện tượng các chùa nhận tăng ni tăng vọt, đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống và sản xuất của nhân dân, những chùa nằm trong các vùng nông nghiệp chăn nuôi, tăng ni hoàn toàn là con cái trong vùng, số lượng thanh niên chiếm tỉ trọng lớn, những chùa lớn tăng ni là thanh niên chiếm trên 60%, những chùa nhỏ con số này là 85% , điều này làm giảm đáng kể sức  lao động nông nghiệp. Ngoài ra , phải kể đến nguồn bảo đảm sinh hoạt cho tăng ni , tăng ni lao động sản xuất trong chùa là rất ít, tuyệt đại đa số là dựa vào sự bố thí của quần chúng và từ các gia đình tăng ni. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển sản xuất nâng cao trình độ cuộc sống nhân dân. Hiện tượng các chùa nhận tăng ni vào quá nhiều  là tương đối phổ biến, trong khi công tác quản lí tăng ni của bản thân nhà chùa lại rất lỏng lẻo,đa số tăng ni rất lơ là với giáo lí, giáo quy của nhà chùa. Một số tăng ni vào chùa là do bố mẹ gửi vào do ảnh hưởng của văn hóa truyền thống, cũng có nhiều thanh niên vào chùa để kiếm sống do không chịu được cuộc sống lao động vất vả và họ trở nên lười nhác, dẫn đến một bộ phận tăng ni không chấp hành giáo lí giáo quy của nhà chùa và vi phạm pháp luật ảnh hưởng đến công tác trị an xã hội.

2.             Một số chùa bị Tập đoàn Lạt Ma lợi dụng, tiến hành các hoạt đông phân liệt, một số tăng ni không tuân thủ giáo lí giáo quy nhà Phật, không tuân thủ pháp luật .

Đa số các chùa tuy có lập ra ủy ban quản lí dân chủ nhưng không kiện toàn, nhiều chùa quyền quản lí không nằm trong tay các cao tăng đại đức yêu nước. Do đó, các thế lực Lạt Ma từ bên ngoài thường lấy những chùa này làm tụ điểm, lấy ngọn cờ tôn giáo để tiến hành các hoạt động thâm nhập và phân liệt.Những chùa này là nơi tiếng nói có trọng lượng, có uy tín  trong Phật giáo TT, cho nên hiệu quả lừa dối và ảnh hưởng rất cao trong xã hội TT. Một số quần chúng nhân dân giác ngộ thấp, sùng bái mù quáng đối với tôn giáo, rất dễ bị lợi dụng. Một số tăng ni không tuân thủ giáo quy, giáo lí, lại bị tư tưởng phân liệt chi phối, đã bất chấp pháp luật, tự nguyện đi đầu trong phong trào chống đối chính quyền. Ở Lasha có hơn 500 tăng ni của 29 chùa tham gia biểu tình ( ghi chú của nd: trong sự kiện bạo loạn tháng 3/2008 ở thủ phủ Lasha, 18 dân thường thiệt mạng, 241 cảnh sát và 382 dân thường bị thương , kẻ bạo loạn đã đốt cháy 7 trường học, 5 bệnh viện , 120 nhà dân, 64 ô tô, cướp phá 908 cửa hàng ). Từ góc độ quản lí xem xét, đơn thuần chỉ dựa vào chế độ dân quản là không thích ứng với điều kiện mới. Sự quản lí trong nội bộ chùa và chính quyền địa phương chưa gắn kết, do đó, nhiều tăng ni đã lợi dụng kẽ hở quản lí này, trốn tránh sự quản lí của nhà nước gây mất ổn định xã hội.

3.             Phát sinh hiện tượng tôn giáo can dự vào hoạt động của chính quyền, giáo dục và sản xuất.

Trước thời cải cách dân chủ, PGTT chiếm địa vị thống trị tuyệt đối ở TT.Đến nay, tuy cải cách dân chủ căn bản đã phá vỡ chế độ phong kiến nông nô “ Chính quyền và Giáo hội hợp nhất”, nhưng trong  một số chùa lớn có ảnh hưởng trong lịch sử, tư tưởng đặc quyền phong kiến trên vẫn còn để lại tàn dư lâu dài, chỉ chờ thời cơ chín mùi, thế lực đặc quyền phong kiến này sẽ ngóc đầu dậy, công khai can dự vào chính quyền địa phương, vào sự nghiệp giáo dục, vào sản xuất, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống , đến trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Có số ít địa phương, do có sự can dự của tôn giáo mà chính quyền đã bị tê liệt hoặc khó triển khai công tác. Đơn cử, ở vùng Sơn Nam , trong khi phần lớn hoa màu bị sâu bệnh tàn phá, do sự can dự của nhà chùa mượn cớ “ không được sát sinh”, ngăn cản quần chúng phun thuốc trừ sâu, làm ảnh hưởng đến sản xuất.Năm 1993, điểm bầu cử của một số xã bị ném đá, buộc phải chuyển đến nơi khác, có ban dân quản còn công khai “ trong tay chúng tôi cũng có con dấu, do đó nhà chùa cùng bình đẳng với chính quyền”, chùa đó đã công khai không chấp hành các quyết định của chính quyền xã, huyện. Một số chùa ở huyện Lâm Chu, lấy danh nghĩa mở trường học, tự chiêu tập nhi đồng thiếu nhi vào chùa, danh nghĩa là học văn hóa, thực tế là đi tu. Một số chùa còn cấm quần chúng đào mương máng, gieo rắc mê tín, nói đào mương sẽ động vào thần linh, làm cho quần chúng hoang mang, không tập trung sản xuất.

4.             Phiến diện cường điệu quyền tự do tín ngưỡng.

  Trong quá trình thực hiện chính sách tự do tôn giáo của Nhà nước, có nơi chỉ chú ý phiến diện nhấn mạnh tự do tín ngưỡng, coi nhẹ tuyên truyền tự do không tín ngưỡng, vô hình dung đã làm tổn hại đến tình cảm của những quần chúng không tín ngưỡng. Đúng ra , phải lí giải đầy đủ cả hai mặt trong chính sách tự do tín ngưỡng của Nhà nước, tức là công dân có quyền tự do tín ngưỡng, cũng có quyền tự do không tín ngưỡng. Nếu chỉ phiến diện nhấn mạnh một mặt tự do này là không chính xác, là không quán triệt toàn diện chính sách tự do tín ngưỡng của nhà nước , đặc biệt đối với những nơi đại đa số quần chúng tín ngưỡng, nếu không chú ý tôn trọng bảo vệ quyền lợi của số ít quần chúng không tín ngưỡng, thì rất dễ làm tổn hại đến tình cảm và quyền lợi của bộ phận quần chúng này. Qúa nhấn mạnh đến tự do tín ngưỡng, sẽ làm cho một bộ phận cán bộ đảng viên quên mất bản thân mình, làm cho một số ít đã công khai tham gia  hoạt động tôn giáo, có đảng viên đã dựng khán thờ Phật tại nhà. Tập đoàn Lạt Ma đã lợi dụng những yếu kém của chúng ta trong công tác tôn giáo, thông qua tôn giáo cô lập và phá vỡ quan hệ đảng viên với quần chúng .Hiện tượng đảng viên tín ngưỡng tôn giáo không chỉ tồn tại trong nông dân, trong mục dân mà ngay cả trong một số cơ quan đơn vị sự nghiệp cũng tồn tại hiện tượng này.

 2/ Đối sách giải quyết vấn đề tôn giáo ở Tây Tạng trong tình hình mới.

   Đối sách chủ yếu để giải quyết vấn đề TT trước mắt là quán triệt toàn diện chính sách tôn giáo của Đảng,dựa vào luật pháp tăng cường quản lí sự vụ tôn giáo TT, làm tốt công tác giáo dục quần chúng tín đồ, làm cho tôn giáo TT thích ứng XHCN. Để giữ cho TT ổn định lâu dài , tạo ra môi trường mới tốt đẹp để TT phát triển kinh tế  xã hội, chúng ta phải thường xuyên tổng kết những bài học kinh nghiệm , tích cực đi sâu giải quyết xử lí một cách toàn diện và triệt để các vấn đề tôn giáo TT trong giai đoạn hiện nay:

1.      Quán triệt toàn diện chính xác chính sách tự do tín ngưỡng của Đảng.

-         Tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, đó là chính sách cơ bản lâu dài của Đảng. Chính sách tự do tín ngưỡng , bao gồm công dân có quyền tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng ; có tự do tín ngưỡng tôn giáo này, cũng có tự do tín ngưỡng tôn giáo kia ; trong cùng một tôn giáo, có tự do tín ngưỡng giáo phái này, cũng có tự do tín ngưỡng phái giáo kia ; có tự do trước đây không tín ngưỡng nay tín ngưỡng, cũng có tự do trước đây tín ngưỡng nay không tín ngưỡng . Khu vực TT là nơi PGTT có tính chất quần chúng, đồng thời với việc bảo đảm tự do tín ngưỡng cho nhân dân, phải chú ý tôn trọng và bảo vệ quyền lợi cho số ít công dân không tín ngưỡng, khiến cho quần chúng tín đồ và không tín đồ đoàn kết, cùng nhau xây dựng mái nhà xã hội TT chung. Cùng với thể chế kinh tế thị trường XHCN từng bước được xác lập và hoàn thiện ở TT,cuộc sống của nhân dân các dân tộc TT cũng từng bước được cải thiện, thông qua việc dắt dẫn nhân dân thoát khỏi nghèo nàn và trạng thái tinh thần u muội, quan niệm tín ngưỡng tôn giáo sẽ dần dần phai nhạt trong một bộ phận nhân dân .Tín ngưỡng và không tín ngưỡng đều là quyền lợi dân chủ của công dân, cho nên phải phản đối tất cả mọi hành vi kì thị quần chúng tín ngưỡng và không tín ngưỡng , phải quán triệt nguyên tắc về chính trị phải đoàn kết hợp tác, về mặt tín ngưỡng phải tôn trọng lẫn nhau.

-         Với một số đảng viên ở TT tín ngưỡng tôn giáo, tham gia các hoạt động tôn giáo, cần căn cứ vào tình hình thực tế để xử lí thỏa đáng. Đảng viên CS là chiến sĩ tiên phong có giác ngộ cộng sản chủ nghĩa, là người vô thần, chỉ có thể tín ngưỡng chủ nghĩa Mac Lenin, không được tín ngưỡng tôn giáo, không được tham gia hoạt động tôn giáo . Các cấp ủy đảng phải tăng cường giáo dục đảng viên về chủ nghĩa vô thần, về tri thức khoa học công nghệ, phải xử lí thận trọng thỏa đáng và phân biệt các tình huống cụ thể đối với đảng viên tín ngưỡng tôn giáo. Phải khai trừ khỏi đảng và xử lí theo pháp luật đối với thiểu số đảng viên tham gia cuồng nhiệt hoạt động tôn giáo, lợi dụng tôn giáo chống lại 4 nguyên tắc cơ bản của Đảng về tôn giáo, tham gia các hoạt động phá hoại đoàn kết dân tộc và phân cắt TQ; đối với đảng viên đã đánh mất lí tưởng CSCN , một lòng tin tưởng vào tôn giáo, đã qua giáo dục vẫn không thay đổi, thì khuyên họ nên ra khỏi Đảng; đối với đảng viên do áp lực của gia đình và xã hội , tham gia các hoạt động tôn giáo bình thường, nhưng bản thân họ vẫn phục tùng kỉ luật Đảng, chấp hành đường lối chính sách của Đảng, thì phải kiên trì giáo dục, giúp họ thoát khỏi sự ràng buộc của tôn giáo. Những đảng viên tham gia một số nghi thức có tính quần chúng theo truyền thống nghi thức hôn lễ và tang lễ theo phong tục tập quán của dân tộc mình, thì đấy không phải là tín ngưỡng tôn giáo. Đối với những quần chúng tín ngưỡng tôn giáo hoặc có cảm tình mãnh liệt đối với tôn giáo  thì không kết nạp vào Đảng.Phải tiến hành chỉnh đốn các cơ sở Đảng yếu kém về chính trị, phân tán về tổ chức , chịu sự phá rối nghiêm trọng của tôn giáo.

2.        Dựa vào pháp luật, tăng cường công tác quản lí sự vụ tôn giáo ở TT.

  Đây là nhu cầu bức thiết để quán triệt toàn diện chính sách tôn giáo , cũng là nhu cầu làm ổn định cục thế TT để ngăn chặn các hoạt động phân liệt doTập đoàn Lạt Ma lợi dụng tôn giáo tiến hành.Đại bộ phận chùa chiền TT là yêu nước và tuân thủ pháp luật, nhưng có một bộ phận tăng ni bị các thế lực phân liệt lợi dụng , tham gia vào các hoạt động phá hoại sự nghiệp thống nhất tổ quốc, gây rối trật tự xã hội và cuộc sống bình yên của nhân dân. Việc xây dựng chùa chiền tràn lan, nhập tín đồ bừa bãi đã tiêu hao bao sức người sức của và mang lại gánh nặng cho quần chúng, vì vậy các cấp ủy đảng, chính quyền phải nắm vững pháp luật, dựa vào pháp luật, tăng cường quản lí các sự vụ tôn giáo, làm cho các hoạt động tôn giáo ở TT đi vào khuôn khổ pháp luật quy định .

 Đối với các tăng ni tham gia các hoạt động phân liệt TQ, đã qua giáo dục mà không thay đổi, phải xử lí nghiêm khắc theo pháp luật.

Đối với những chùa chiền có khuynh hướng theo chủ nghĩa phân liệt và thường xuyên tham gia các vụ bạo loạn thì phải kịp thời chỉnh đốn.

-Đạt Lai Lạt Ma là đầu sỏ của tập đoàn chính trị theo chủ nghĩa phân liệt, đã bội phản lại giới luật, giáo lí của Phật giáo, mưu đồ đòi TT độc lập. Giữa chúng ta và Tập đoàn Lạt Ma, không phải là vấn đề giữa tín ngưỡng và không tín ngưỡng, mà là vấn đề duy trì thống nhất tổ quốc và chống lại chủ nghĩa phân liệt. Lạt Ma lợi dụng tôn giáo, tiến hành thâm nhập chính trị vào TT là thủ đoạn quan trọng của hoạt động phân liệt của chúng.Chúng ta phải bóc trần bộ mặt chính trị lợi dụng tôn giáo của Lạt Ma , làm mất hiệu lực việc tán phát tuyên truyền phản động của Tập đoàn Lạt Ma, kiên quyết không khoan nhượng các phần tử phân liệt được phái vào trong nước, ngăn chặn ảnh hưởng của Lạt Ma đối với chùa chiền và tăng ni TT.

-         Để bảo đảm cho tôn giáo hoạt động bình thường, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các nơi hoạt động tôn giáo, phải chấn chỉnh hiện tượng hỗn loạn các địa điểm hoạt động tôn giáo, cần phải dựa vào pháp luật để quản lí các địa điểm hoạt động tôn giáo theo “ Điều lệ quản lí nơi hoạt động tôn giáo” của Chính phủ ban hành , làm tốt công tác đăng kí nơi hoạt động tôn giáo để ngăn chặn chùa chiền mọc tràn lan. Các nơi để tiến hành hoạt động tôn giáo trong toàn khu cơ bản thỏa mãn đầy đủ yêu cầu các yêu cầu hoạt động tôn giáo, từ nay nếu chưa được phê chuẩn của Uỷ ban Tôn giáo Khu tự trị thì không được mở thêm các điểm hoạt động tôn giáo.

-         Xây dựng chế độ trách nhiệm quản lí và tăng cường sức mạnh trong việc quản lí các loại chùa, trong nội bộ chùa ở TT có thể kí thỏa thuận trách nhiệm giữa tổ dân quản và tăng ni, sư sãi, gia đình tăng ni; kiên trì nguyên tắc kết hợp giữa phân cấp quản lí với quản lí tại chỗ, kiện toàn cơ cấu công tác tôn giáo, bồi dưỡng cán bộ làm công btacs tôn giáo.

-         Tăng cường quản lí sự vụ tôn giáo TT theo pháp luật , phải tiến hành chế độ định biên chế tăng ni ở các cơ sở tôn giáo, phải tiến hành đăng kí sát hạch tăng ni  trong phạm vi biên chế . Những tăng ni biên chế trong chùa được hưởng tất cả các quyền lợi công dân đồng thời phải thực hiện mọi nghũa vụ công dân. Những người trú ở chùa nếu chưa được sự đồng ý của tổ dân quản và chưa được cơ quan quản lí tôn giáo TT phê chuẩn , thì theo kì hạn phải trở về nơi ở cũ. Đối với tăng ni là đồng bào Tạng về nước định cư yêu cầu vào chùa, phải làm thủ tục đăng kí định cư theo quy định. Đối với các tăng ni trôi nổi trong xã hội, cơ quan chính quyền các cấp cùng ban dân cử chùa phải tăng cường các biện pháp quản lí. Đối với các tăng ni già yếu bệnh tật không nơi nương tựa , phải được đối xử như những người được hưởng chính sách “ 5 đảm bảo” ( chú thích của nd : cung cấp lương thực, quần áo chăn màn và các vật dụng khác, nhà ở, điều trị bệnh, mai táng). Trong công tác quản lí sự vụ tôn giáo TT, điều bức xúc là phải gia nhanh các bước xây dựng pháp luật về tôn giáo, để công tác quản lí tôn giáo có cơ sở pháp lí đầy đủ. Phải căn cứ vào pháp luật và luật lệ hiện hành của Nhà nước, kết hợp với tình hình quản lí tôn giáo cụ thể ở TT, để xây dựng các quy phạm hành chính về sự vụ tôn giáo mang tính chất địa phương.

3.        Tăng cường công tác hướng dẫn và giáo dục đối với tăng ni và quản lí tín đồ.

 -Đại bộ phận tăng ni TT là yêu nước và tuân thủ pháp luật. Nhưng do có sự thâm nhập chính trị của tập đoàn phân liệt Lạt Ma , mà một số tăng ni không tuân thủ giáo lí, coi thường pháp luật, tiến hành hoạt động phân liệt, vì vậy phải tăng cường giáo dục chủ nghĩa yêu nước, tuyên truyền TT là một bộ phận không thể tách rời của TQ, xây dựng ý thức đoàn kết dân tộc và tình yêu tổ quốc , phát huy truyền thống yêu nước, yêu giáo, tổ chức cho tăng ni học tập hiến pháp và các luật lệ liên quan, xây dựng ý thức “pháp trị” trong tăng ni, hình thành nên thói quen là tuân thủ pháp luật.

- Chúng ta phải coi trọng việc xây dựng tổ quản lí chùa, thực sự làm cho quyền lãnh đạo chùa ngả dần nằm trong tay các nhân sĩ giáo giới yêu nước. Với những nhân sĩ này, vừa tăng cường sự quan tâm  vừa tăng cường giáo dục và hướng dẫn họ . Đối với các nhân sĩ có lập trường không kiên định , có thái độ mềm yếu trong cuộc đấu tranh chống phân liệt, thì tiến hành phê bình giáo dục, giúp họ nhiệt tình với sự nghiệp xây dựng hòa bình TT.Các ban dân cử quản lí chùa đều là tổ chức cơ sở quản lí chùa , do tăng ni trong chùa bầu ra dưới sự lãnh đạo của chính quyền địa phương. Các tổ, hội dân quản phải hực hiện chế độ dân chủ tập trung, những vấn đề có tính toàn chùa phải thông qua hôi nghị của mọi tăng ni thảo luận.

 - Tín ngưỡng tôn giáo là một vấn đề thuộc lĩnh vực tư tưởng, chỉ có thể thuyết phục giáo dục , không thể xử lí bằng biện pháp áp chế  giản đơn. Phải tuyên truyền giáo dục sâu rộng cho quảng đại quần chúng tín đồ về đoàn kết dân tộc, yêu nước , yêu chế độ , các tri thức văn hóa khoa học liên quan đến các hiện tượng tự nhiên, liên quan đến tiến hóa xã hội , đến sinh lão bệnh tử và cát- hung, họa- phúc của con người.

4.         Hướng dẫn Phật giáo Tạng truyền thích ứng với CNXH.

-         Lịch sử phát triển  của PGTT đã khẳng định nó diễn biến và thay đổi để thích ứng với nhu cầu phát triển xã hội. Thực tiễn 40 năm giải phóng hòa bình TT ta thấy Phật giáo Tạng truyền TT cũng có thể thích ứng với CNXH. Trước mắt cần dắt dẫn PGTT thích ứng với kinh tế thị trường XHCN .

-          Mấy năm gần đây, các chùa TT triển khai hoạt động theo phương châm “ lấy chùa nuôi chùa”, thực hiện tôn chỉ của Phật giáo dân gian, thông qua hoạt động kinh tế thương mại để rèn luyện tăng lữ. Chúng ta phải biết phát huy ưu thế của tài nguyên văn hóa tôn giáo, dắt dẫn giới tôn giáo trực tiếp lao vào công cuộc cải cách mở cửa và sự nghiệp xây dựng kinh tế XHCN, cống hiến cho sự phát triển ốn định của TT.Tài nguyên văn hóa của TT vô cùng phong phú, văn hóa PGTT rất đặc sắc, kiến trúc cổ chùa chiền vô cùng kì diệu , các loại tranh tượng Phật và văn vật quí hiếm...đều là ưu thế tài nguyên du lịch tôn giáo trời cho. Phải mở mang lợi dụng tài nguyên văn hóa tôn giáo TT, ủng hộ nhà chùa làm du lịch , khuyến khích chùa TT mở dịch vụ ăn uống, văn hóa trà, dịch vụ nhà nghỉ phục vụ công tác du lịch. Tu viện Tashihunpo ở miền nam TT đã thành lập Tổng công ty Phát triển Gang Guan, có chi nhánh tại Bắc Kinh, Thâm Quyến, Nê pan...năm 1993 đã nộp cho tu viện 1,8 triệu NDT, đó là nguồn vốn chủ yếu để “ lấy chùa nuôi chùa”. Chúng ta khuyến khích các chùa TT học hỏi kinh nghiệm của Tu viện Tashihunpo , sáng tạo ra các thực thể kinh tế chùa, để các tăng ni phật tự mình tham gia vào thực tế kinh tế thương mại mang lại nguồn lợi kinh tế chính đáng cho chùa, góp phần làm giàu cho xã hội ; phải phát huy được ưu thế quan hệ rộng của tôn giáo để gọi vốn và kĩ thuật vào khai phá nguồn tài nguyên tự nhiên giàu có của TT.

-         Lấy lao động để nuôi chùa , đó là sự thay đổi có tính chất lịch sử trong hoạt động của chùa chiền Phật giáo TT trong điều kiện XHCN. Chúng ta phải hướng dẫn trợ giúp các nhà chùa TT tổng kết kinh nghiệm, tiến hành lao động sản xuất nông lâm mục , nghề phụ, nỗ lực bằng mọi khả năng, giúp đỡ tăng ni khai hoang phục hóa, trông cây lương thực, cây ăn quả, chăn nuôi gia súc, chế tác tượng Phật...ở vùng xung quanh chùa, như thế không những cải thiện đời sống tăng ni , mà còn giảm gánh nặng cho gia đình các tín đồ. PGTT yêu cầu tín đồ “ tu thiện, tích đức” để “ cứu vớt chúng sinh” là một trong những điều kiện cho việc theo đuổi hạnh phúc ở thế giới bên kia, căn cứ vào điều kiện này, chúng ta cần phải cổ vũ , ủng hộ , giúp đỡ giới tôn giáo vì sự nghiệp từ thiện công ích đối với xã hội.

Gửi bình luận của bạn
x