Tôn giáo

Tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam

08-05-2016 - 00:24 - 448 lượt xem

Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam là lịch sử thống nhất và đoàn kết của cộng đồng dân tộc, giữa các tôn giáo và tín ngưỡng bản địa với các tôn giáo du nhập từ bên ngoài.

 Ngay từ thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên, sự du nhập của Phật giáo vào vùng kinh đô Luy Lâu (Thuận Thành, Bắc Ninh ngày nay), đã nhanh chóng hoà nhập với tín ngưỡng và văn hoá bản địa, trở thành một bộ phận tất yếu trong đời sống tâm linh của người Việt cổ. Ở Miền Nam, Phật Giáo Nam Tông đã bắt đầu hình thành và phát triển ở thời kỳ Vương quốc Phù Nam (thế kỷ I-VII), tiếp sau đó ảnh hưởng sâu đậm trong cộng đồng dân tộc Khmer Nam Bộ vào thế kỷ XIII và XIV. Vào đầu thế kỷ thứ X, Nho giáo bắt đầu du nhập vào Việt Nam qua sự ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa. Phật giáo phục hưng và trở thành hệ tư tưởng chính thống của triều đại Lý-Trần (thế kỷ XI-XIV) và chiếm vị trí chủ đạo trong đời sống tâm linh của người dân thời kỳ này.

  alt

Tuy nhiên, kể từ thời Hậu Lê (thế kỷ VI) trở đi, Nho giáo đã trở thành hệ tư tưởng chính trị - đạo đức chính thống và là một trong những tôn giáo chính trong xã hội phong kiến Việt Nam. Theo những bước chân của các giáo sĩ truyền giáo Tây Âu, Công giáo đã được đưa vào Việt Nam từ thế kỷ XVI và sau đó phát triển mạnh ở triều Nguyễn và thời Pháp thuộc. Cuối thế kỷ XIX, đầu XX, đạo Tin lành bắt đầu du nhập vào Việt Nam do các nhà truyền giáo đến từ Bắc Mỹ. Trong nửa đầu và cuối thế kỷ XX là sự phát triển mạnh mẽ của các tôn giáo bản địa, đáng lưu ý là Phật giáo Hoà Hảo, đạo Cao Đài, Tứ Ân Hiếu Nghĩa... Cùng với những tín ngưỡng bản địa đã hình thành từ lịch sử ngàn năm của dân tộc, như tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, các tôn giáo ngoại sinh và nội sinh đã làm phong phú và là bộ phận không thể thiếu đươc trong đời sống tâm linh và tinh thần của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

 

alt 

Một là, các tín ngưỡng, tôn giáo có sự dung hợp, đan xen và hòa đồng, không kỳ thị, tranh chấp và xung đột. Các tín ngưỡng truyền thống phản ánh đời sống tâm linh phong phú, đa dạng, sự khoan dung, độ lượng, nhân ái của người Việt Nam và tinh thần đoàn kết toàn dân tộc. Đây là những yếu tố để người Việt Nam dễ hòa đồng với nhiều tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau. Trong nhiều cộng đồng dân cư có sự xen kẽ giữa người có tôn giáo và người không có tôn giáo. Ở nhiều nơi, trong cùng một làng, xã, có nhóm tín đồ của tôn giáo này sống đan xen với nhóm tín đồ của tôn giáo khác hoặc với những người không theo tôn giáo, và họ sống hòa hợp với nhau trên nền tảng làng, xóm, dòng họ. 

Hai là, các tôn giáo ở Việt Nam chủ yếu thờ Thượng đế và linh nhân là người nước ngoài. Các nghiên cứu về lịch sử tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam cho thấy, tư tưởng tôn giáo có từ người Việt cổ, thể hiện trực quan qua các hình tượng chim Lạc và con Rồng. Hệ thống giáo lý của các tôn giáo nội sinh (Phật giáo Hòa Hảo, Cao Đài, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam,...) hầu hết đều sao chép hoặc chịu ảnh hưởng từ các tôn giáo có trước. 

Ba là, mỗi tín ngưỡng, tôn giáo mang những nét văn hóa riêng biệt nhưng đều hướng đến Chân - Thiện - Mỹ, chịu ảnh hưởng của truyền thống dân tộc, góp phần tạo nên những nét đẹp trong nền văn hóa đa dạng, phong phú về bản sắc của dân tộc. Thực tế, mỗi tôn giáo đều mang trong nó một hay nhiều tín ngưỡng; các tín ngưỡng này đã có sự giao thoa với văn hóa Việt Nam. Qua hàng trăm năm tồn tại, phát triển, văn hóa tín ngưỡng ngoại nhập dần được Việt hóa và trở thành một bộ phận của văn hóa Việt Nam (dù không thuần nhất).

Bốn là, trong lịch sử cận, hiện đại của dân tộc, các thế lực thực dân, đế quốc, phản động luôn tìm mọi cách lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo và các vấn đề liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo để xâm lược, đô hộ nước ta, hoặc gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Vũ Văn Thước

Gửi bình luận của bạn
x