Tôn giáo

Tôn giáo và chính sách tôn giáo của Indonesia

12-05-2017 - 21:42 - 1578 lượt xem

Phong phong

 

Với điều kiện địa lý thuận lợi về đường hàng hải, lịch sử đất nước Indonesia đã sớm chứng kiến sự du nhập và ảnh hưởng của nhiều nền văn minh lớn trên thế giới như Ấn Độ, Trung Quốc, Ảrập, Bồ Đào Nha, Anh và Hà Lan. Cùng với các nền văn minh này, những tôn giáo chính của nhân loại cũng đã thâm nhập và hòa trộn với tín ngưỡng bản địa ở Indonesia. Tôn giáo đã trở thành một phần quan trọng của văn hóa và đời sống cộng đồng, do đó mối quan hệ hài hòa giữa các tôn giáo đóng vai trò rất quan trọng đối với quốc đảo này.

Mở đầu là Hindu giáo, rồi lần lượt theo thời gian, Phật giáo, Hồi giáo và Thiên Chúa giáo cũng được du nhập vào các hòn đảo của Indonesia. Hindu giáo đã theo chân các thương nhân Ấn Độ tới đảo Sumatra, Java và Sulawesi của Indonesia từ thế kỷ thứ 2 sau Công nguyên. Đến thế kỷ thứ 5, tôn giáo này đã thiết lập được chỗ đứng vững chắc trên hòn đảo Java trù phú và đông dân, trung tâm của nền văn hóa Indonesia. Một thế kỷ sau, đến lượt Phật giáo cũng khẳng định được vị thế ở Sumatra và Java, đặc biệt là tại các vùng đất do đế chế biển Srivijaya hùng mạnh kiểm soát. Hồi giáo đến với các hòn đảo của Indonesia muộn hơn, thiết lập trung tâm Hồi giáo đầu tiên tại phía bắc và phía tây đảo Java. Ngày nay đạo Hồi đã có mặt trên tất cả các hòn đảo của Indonesia và trở thành tôn giáo lớn nhất tại nước này với sự có mặt của các hệ phái chính như Sunni, Shiite và Sufi. Đạo Thiên Chúa là một trong những tôn giáo lớn nhất của thế giới nhưng đến Indonesia muộn nhất, theo chân những người Bồ Đào Nha đến đây khoảng năm 1512. Đến năm 1596, khi thực dân Hà Lan có mặt tại quần đảo giàu hương liệu và sản vật quý này, họ đã mang theo đạo Tin lành. Ngoài các tôn giáo chính kể trên, một số tôn giáo khác cũng được thương nhân và người di cư gốc Trung Quốc mang đến Indonesia như đạo Lão và đạo Khổng (Nho giáo). Tuy nhiên, những tôn giáo mang đậm tính chất của một trường phái triết học này không có nhiều ảnh hưởng ở Indonesia, mặc dù người Trung Quốc đã đến đây từ rất sớm với số lượng đông đảo. Hiện nay các tôn giáo - hệ tư tưởng này hầu như chỉ tồn tại trong cộng đồng Hoa kiều sống ở những thành phố lớn của Indonesia. Theo ước tính, dân số của Indonesia khoảng 236 triệu, trong đó 88,2% Hồi giáo, 5,87% đạo Tin lành, 3,05% Công giáo, 1,81% Ấn Độ giáo, 0,84% Phật giáo và 0,20% thuộc các nhóm phái - tôn giáo khác.

Sau khi giành được độc lập (ngày 17/8/1945), Indonesia đã công nhận quyền tự do theo và thực hành tôn giáo, tín ngưỡng. Hiến pháp năm 1945 quy định về cương lĩnh ý thức hệ Pancasila. Đến năm 1975, Pancasila được đưa vào giáo dục trong nhà trường. Từ năm 1978 trở đi, Pancasila trở thành kim chỉ nam cho toàn bộ xã hội. Pancasila bao gồm năm nguyên tắc liên hệ chặt chẽ, được xem là cơ sở triết lý quản lý nhà nước nhằm thống nhất quốc gia: (1) Niềm tin duy nhất vào một Chúa trời; (2) Sự nhân đạo văn minh và công bằng; (3) Sự thống nhất của Indonesia; (4) Nền dân chủ được hướng dẫn bởi trí tuệ nội tại và sự đồng thuận qua tranh luận giữa những người đại diện; và (5) Công bằng xã hội cho toàn thể người dân.

Theo một số nhà nghiên cứu, thực chất Pancasila là một thuyết đa nguyên tôn giáo và đã được tất cả các nhóm tộc người hưởng ứng tham gia, vì dưới hình thức Pacansila, tự do tôn giáo được đảm bảo, không có một tôn giáo nào, dù là Hồi giáo, có quyền và vị trí độc tôn. Như vậy, Pancasila đã đảm bảo cho một nước rất đa dạng về văn hóa, tộc người, tôn giáo và có những hệ tư tưởng khác biệt như Indonesia đảm bảo sự ổn định tương đối để phát triển. Chế độ cầm quyền Indonesia đã sử dụng tư tưởng Pancasila để giải thích cho tự do tôn giáo và đa nguyên tôn giáo, đồng thời biện minh cho việc thành lập các tôn giáo thông qua thiết lập Bộ Tôn giáo, công nhận 6 tôn giáo chính (gồm Hồi giáo, Tin lành, Công giáo, Ấn Độ giáo, Phật giáo, Khổng giáo) và tôn trọng các niềm tin tôn giáo khác. Việc thành lập tôn giáo ở Indonesia cũng được quy định trong một số luật khác.

Tuy nhiên, chính đời sống tôn giáo đa dạng, điều kiện địa lý phức tạp gồm hơn 13.000 hòn đảo lớn nhỏ nằm trải dài trên một khu vực rộng lớn đã dẫn đến các vấn đề phức tạp liên quan đến tôn giáo mà Indonesia phải đối mặt. Xung đột tôn giáo là một vấn nạn và nguy cơ đe dọa trực tiếp đến sự thống nhất của quốc đảo này. Là quốc gia có đông người theo đạo Hồi nhất trên thế giới hiện nay nhưng Indonesia có hiến pháp thế tục, đạo Hồi không được coi là quốc giáo ở đảo quốc này. Đa số các nhóm Hồi giáo ôn hòa đều phản đối việc áp dụng bộ luật Sharia hà khắc của Hồi giáo ở Indonesia. Nhưng cũng có không ít tổ chức cực đoan đã đi ngược lại mong muốn này và họ dùng bạo lực để bày tỏ quan điểm. Do đó, việc giải quyết nạn xung đột tôn giáo là một trong những thách thức đối với bất kỳ tổng thống nào lên cầm quyền ở Indonesia kể từ khi quốc gia này tuyên bố độc lập.

Ngoài ra, các cuộc xung đột căng thẳng giữa người Công giáo với người Hồi giáo cũng đã kéo dài nhiều thập kỷ và ở nhiều điểm nóng. Chẳng hạn, xung đột giữa người Công giáo và người Hồi giáo ở quần đảo Maluku với dân số khoảng 3 triệu người, trong đó người theo đạo Hồi chiếm 55%, theo đạo Công giáo chiếm 44%. Xuất phát từ tâm lý bị phân biệt đối xử nên đã hình thành những bất đồng giữa hai cộng đồng tôn giáo này và những mâu thuẫn âm ỉ trở thành xung đột lớn. Những người Hồi giáo đã thành lập các đơn vị bán quân sự được trang bị vũ khí sẵn sàng tiến hành cuộc “Thánh chiến” để bảo vệ người Hồi giáo.

Một vấn đề tôn giáo khác mà Indonesia phải đối mặt đó là tự do tôn giáo của các tôn giáo phi chính thức và những người vô thần. Chính phủ Indonesia công nhận chỉ có 6 tôn giáo chính thức đã gây khó khăn cho các nhóm tôn giáo thiểu số trong việc có được sự công nhận về tôn giáo/tín ngưỡng trong chứng minh thư và các giấy tờ công dân khác. Điều này dẫn đến việc Nhà nước bị coi là thiên vị đối với đa số, nhất là khi cung cấp và phục vụ lợi ích đa số so với việc bảo vệ nhóm thiểu số; đồng thời gặp lúng túng khi đối phó với phản ứng của đa số chống lại các nhóm thiểu số. Do đó, năm 2006, pháp luật Indonesia đã công nhận các niềm tin tôn giáo phi chính thống và cho phép đăng ký với chính quyền như các tín ngưỡng, và tín đồ có thể nhận được một số giấy tờ công dân.

Tóm lại, chính trị hóa sắc tộc và tôn giáo có nguy cơ gây chia rẽ chủ yếu trong nền chính trị quốc gia này. Chính phủ Indonesia sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức về sự thống nhất. Một trong những ưu tiên là phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa các tôn giáo, xây dựng các mối tương quan liên tôn giáo hài hòa; thừa nhận sự đa dạng về văn hóa, tôn giáo, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Đồng thời, cần thực hiện các biện pháp phát triển kinh tế, giáo dục, xóa đói giảm nghèo để có thể hạn chế được phần nào các cuộc xung đột sắc tộc, tôn giáo thông qua giải quyết sự bất bình đẳng và bất công./.

Tài liệu tham khảo:

1. D.G.E. Hall, Lịch sử Đông Nam Á, NXB. Chính trị Quốc gia Hà Nội, 1997.

2. Renata Arianingtyas, “Indonesia: Những căng thẳng trong nhà nước tôn giáo với việc bảo vệ quyền con người”, Hội thảo Quốc tế: Tôn giáo và pháp quyền ở Đông Nam Á, Hà Nội, tháng 9/2006.

3. Azyumardi Azra, “Đối thoại liên tôn: Viễn cảnh và nỗi bức xúc của tín đồ đạo Islam tại Indonesia”, Đại hội SEAMS XIV, Palm Beach, Kuta, Bali, Indonesia, ngày 16-22/11/2010.

4. “Xung đột dân tộc, tôn giáo ở một số nước và giải pháp”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, đăng tải ngày 14/08/2014, http://tcnn.vn/Plus.aspx/vi/News/125/0/1010073/0/6330/Xung_dot_dan_toc_ton_giao_o_mot_so_nuoc_va_giai_phap.

 

Gửi bình luận của bạn
x