Ý kiến người dân

Nguyễn Trần Bạt: Giá trị thật của con người là sự cống hiến

12-05-2018 - 09:21 - 175 lượt xem

Dư luận đang rất ồn ào về việc phong học hàm của Hội đồng chức danh giáo sư nhà nước. Khi nói về giới khoa học, người ta thường nghĩ ngay đến người có học hàm học vị, thậm chí có người còn đồng nhất hai khái niệm này. Nhưng thực thế lại có rất nhiều ngoại lệ. Có người say mê nghiên cứu khoa học và cho ra đời không ít sản phẩm khoa học được xã hội đón nhận mà không có một học hàm học vị nào đáng kể. Nguyễn Trần Bạt là một trong số ít những nhà khoa học như vậy. Cerd

Sinh năm 1946, tại Nghệ An, Nguyễn Trần Bạt được coi như là một doanh nhân thành đạt, một luật sư và nhà tư vấn xuất sắc. Ông dành rất nhiều thời gian để nói chuyện viết sách để thuyết phục các nhà lãnh đạo về những vấn đề sống còn của đất nước. Ông không phải là người đối lập, nhưng đã không mệt mỏi nghiên cứu các hiện tượng xã hội để rồi mang những những ý kiến đó thuyết phục người khác... Kết quả của hơn hai chục năm nghiên cứu đó là hơn chục đầu sách đã được xuất bản. Sách của ông không chỉ được đông đảo công chúng đón nhận mà còn có mặt ở nhiều trường đại học lớn trên thế giới. Những tác phẩm của ông đã được tái bản nhiều lần có thể kể đến: “Văn hóa và Con người”, “Cội nguồn cảm hứng”; “Đối thoại với tương lai”...

Bìa sách Văn hóa và Con người

Nhân dịp đầu năm, kbchn.net đã có cuộc trao đổi với Nguyễn Trần Bạt về vấn đề này.

  • Theo ông, hệ thống học hàm học vị đóng vai trò thế nào trong giới nghiên cứu khoa học?
  • Tôi nghĩ là nó rất quan trọng, học hàm học vị là một trong các tiêu chuẩn để hình thành đội ngũ hướng dẫn khoa học, cho nên phải tiêu chuẩn hóa thì những người đó mới tham gia việc truyền bá các phổ quát khoa học một cách chuyên nghiệp. Cho nên, không nên viết về tôi như một kẻ có trí tuệ mâu thuẫn với hệ thống học vị của tôi, nếu đặt ra vấn đề như vậy thì tôi buộc phải lùi lại và nhận mình không phải là nhà khoa học. Bởi vì dù tôi có tài giỏi mấy đi nữa cũng vẫn phải tuân thủ hệ thống tiêu chuẩn học hàm học vị của giới khoa học, đấy mới là thái độ khoa học.

Có thể nói tôi yêu thích và tôi có kinh nghiệm trong nhiều ngành khoa học, nhưng tôi không mâu thuẫn với hệ thống tiêu chuẩn, và tôi không tự hào về việc tôi không có học hàm học vị. Chỉ có một điều là học hàm học vị không đủ hấp dẫn để tôi hy sinh thời gian hoàn thiện nó. Lý do là tôi có những việc cần thiết hơn, kiếm tiền nuôi vợ con, kinh doanh để đội ngũ của mình có tiền sinh sống. Những việc ấy đòi hỏi tôi phải hy sinh việc hoàn thiện các học hàm học vị của mình. Giáo sư Đào Trí Úc có đề nghị tôi làm luận án tiến sĩ cách đây chục năm rồi, tôi từ chối vì không có thì giờ.

Tôi không phải là kẻ mâu thuẫn với hệ thống tiêu chuẩn của giới trí thức Việt Nam. Tôi cũng không muốn khai thác khía cạnh có nhiều người có học hàm học vị nhưng không có chất lượng trí tuệ thích hợp. Hàng giả trong thị trường khoa học kỹ thuật cũng có, nhưng hàng giả trong thị trường này không làm mất đi giá trị của giới trí thức Việt Nam. Bởi vì thứ không học hàm học vị ấy đôi khi mở rộng cánh cửa tự do cho các học giả đóng góp. Những sự đóng góp ấy có thể không chuyên nghiệp nhưng là những gợi ý khoa học rất có giá trị.

Nếu chúng ta vì sự nghiệp được gọi là khoa học công nghệ của đất nước, thì chúng ta phải đóng góp bất chấp việc có học hàm, học vị hay không. Trong lịch sử của đất nước nhiều bậc tiền bối không có học hàm học vị. Ví dụ, giáo sư Tạ Quang Bửu tốt nghiệp trường nào bây giờ cũng khó nói. Nhiều người không có học hàm học vị thật sự, nhất là giai đoạn đầu tiên của chế độ xây dựng học hàm. Hầu hết những người được phong hàm giáo sư đầu tiên như giáo sư NguyễnVăn Cung, giáo sư Đặng Hữu,v.v… tôi quen họ cả. Họ được trao học hàm học vị như vậy để thực thi nghĩa vụ vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp giáo dục, là phổ biến những tiêu chuẩn cơ bản để hình thành đội ngũ trí thức Việt Nam. Tuân thủ và khuất phục nó, không tham gia vào thị trường lề trái để moi móc những khía cạnh tiêu cực của hoạt động này.

Rất nhiều giáo sư có thể dốt theo quan niệm của người này hoặc người kia nhưng không hẳn. Nếu anh đem vấn đề toán học hỏi ông giáo sư chính trị thì đương nhiên ông ấy dốt. Đôi khi chúng ta quan niệm một cách sai trái về một tiến sĩ hoặc một giáo sư có học hàm học vị. Chúng ta cho rằng đã là tiến sĩ thì phải giỏi tất, đấy là quan niệm sai. Anh ta là một nhà chuyên môn, anh ta được đánh giá bằng chính chuyên môn cụ thể ấy. Còn giáo sư thì thể hiện trình độ khái quát hơn, nhưng không có nghĩa là hỏi gì cũng biết. Không nên đặt ra những câu hỏi ác ý đối với giới trí thức Việt Nam, cái đó nên sửa. Chúng ta phải xem trọng những trí thức cụ thể, và khai thác một cách hợp lý ở những đối tượng hợp lý. Đấy là thái độ đúng đắn nhất và thái độ cần có của những người tự nhận mình là trí thức.

Gạo và Sạn: cuốn sách mới nhất của tác giả Nguyễn Trần Bạt

  • Do VN chưa có không gian dân sự đủ lớn, không ít người do nhu cầu về cái ghế để ngồi hay thang bậc để tăng lương, người ta buộc phải mua sắm các học hàm học vịvì mưu sinh chứ chưa hẳn vì niềm đam mê nghiên cứu! Quan điểm của ông về vấn đề này?
  • Ở đâu cũng thế, giá trị của một học hàm học vị hay một luận án là một giá trị rất hẹp và ngẫu hứng, bởi vì đã nói đến đánh giá khoa học là phải đánh giá rất cẩn thận, nhưng không ai có đủ thì giờ để đánh giá cẩn thận các luận án khoa học. Trên thế giới chỗ nào mà chẳng có người dốt. Đôi khi chúng ta cãi được những người dốt, chúng ta bình đẳng với người dốt mà cứ tưởng do mình giỏi. Tôi không tự hào rằng tôi thắng trong cuộc tranh luận với một người nào đó là tôi giỏi hơn, lý do rất đơn giản nhỡ đó là người dốt thì sao.
  • Nhưng câu chuyện ở đây là trong một xã hội mà người ta không có nhiều không gian mưu sinh thì buộc lòng người ta phải mưu sinh bằng cách đó?
  • Tôi hiểu ý kiến của anh. Chúng ta không có khu vực xã hội dân sự nên con người không tìm thấy niềm vui của mình ở đâu. Người ta cần phải tượng tượng ra rằng người kia liếc mình chắc là liếc địa vị của mình, liếc niềm vinh quang mà mình có trong lao động khoa học.

Tôi đi tìm niềm vui cuộc đời trong sáng tạo khoa học, tôi tự hào tôi là một nhà khoa học, nhưng tôi không quan tâm đến bằng cấp, vì bằng cấp là một công việc buộc phải làm từ lúc chưa có tên tuổi. Tôi có một quỹ thời gian hoạt động khoa học 30 năm, 10 năm đầu là khoa học kỹ thuật với tư cách là một nhà cơ học, 20 năm gần đây tôi là một nhà chính trị học, các tác phẩm của tôi được gửi đến thư viện của trường Harvard, đến thư viện của Quốc hội Hoa Kỳ, thư viện quốc gia Paris, thư viện một số trường đại học ở Mỹ, nhưng tôi không mưu sinh bằng cái đấy mà tôi cống hiến.

Tôi đã ở tuổi cần phải có sự cống hiến, bởi vì nếu không cống hiến tức là tôi không chứng minh được mình có giá trị gì. Có nhà cao cửa rộng nhưng anh vẫn là kẻ đang mưu sinh thì anh không có giá gì. Giá trị thật sự của con người chính là sự cống hiến của nó. Toàn bộ hạnh phúc của một nhà khoa học là sự cống hiến, là sự phát hiện lẽ phải ở cấp thấp, chân lý ở cấp cao và triết học ở cấp tuyệt đối. Không làm được việc ấy thì chỉ là mưu sinh, đi tìm một cái ghế, tìm một tiếng thơm, đi tìm một học vị. Tôi đã đến nhiều trường đại quan trọng ở các nước tiên tiến, tôi chưa bao giờ cảm thấy e ngại khi đối diện với ai, kể cả một người khổng lồ của thế giới là Henry Kissinger, vì tôi là kẻ bình tĩnh trước tất cả các sự khủng bố về giá trị.

  • Phải chăng, ông cho rằng nghiên cứu khoa học là niềm đam mê, coi việc cống hiến là lẽ sống của mình chứ không phải mưu sinh, coi đấy như là trách nhiệm xã hội chứ không phải kiếm sống?
  • Tôi nghĩ rằng đã làm khoa học thì phải thấy được sự to tát của công việc mình làm, khi nói thì nói nhỏ để tránh làm huyên náo cuộc sống, nhưng khi nghĩ thì phải thấy rằng một vài ý nghĩ của chúng ta có thể gây tác động ở tầng vĩ mô. Tôi không hề xem những việc tôi làm là bé nhỏ. Những việc tôi làm là việc khổng lồ, nhưng không phải để mưu sinh.
  • Động lực nào để cho ông có thể hoàn thành được những việc lớn như vậy?
  • Tôi làm hết sức mình để "giải độc cho thế hệ trẻ". Là một người cha, tôi đã nghĩ nhiều để thế hệ trẻ, thế hệ con tôi bước vào cuộc đời với tư cách những người tự do, những người không nhiễm độc, không định kiến, những người có tầm nhìn hình nan quạt chứ không phải cái nhìn trên một đường thẳng. Xét cho cùng, mục tiêu của con người là sống chứ không phải làm việc. Hiện nay ngành giáo dục đang dạy trẻ con sai, làm con cháu chúng ta thi rất giỏi, nhưng làm thì rất kém. Có những người làm rất giỏi, nhưng sống thì tồi.
  • Tôi yêu cuộc đời một cách chân thật, yêu cả khuyết tật, nhược điểm của nó. Cuộc sống đối với tôi có những khía cạnh khó khăn, khổ sở nhưng cũng có cả những khía cạnh trìu mến, chứa đựng rất nhiều kỷ niệm tinh thần của tôi. Tôi viết sách là để thể hiện tình yêu của tôi đối với cuộc sống, để góp một phần của tôi vào sự hợp lý hóa đời sống tinh thần của con người và tôi làm việc ấy một cách yên lặng, một cách âm thầm.

Cám ơn ông!

Phan Thế Hải (Thực hiện)

Gửi bình luận của bạn
x