Ý kiến người dân

Trăn trở về Đặc khu kinh tế

07-06-2018 - 14:18 - 314 lượt xem

Suốt hai tuần qua, vấn đề thông qua Luật về các Đặc khu kinh tế nóng lên trên nghị trường Quốc hội, trên báo chí chính thống và các trang mạng xã hội. Có hai phe, tôi nghĩ, đa số là những người chưa đọc qua các điều khoản về luật, như tôi, đang kịch chiến. Một bên là kiên quyết thông qua, chê phe kia là ngu dốt, không biết gì. Một bên chống lại, chửi những người phe kia là bán nước, bán linh hồn cho quỷ dữ…

Là một người có nhiều năm công tác trong doanh nghiệp FDI, có thời, được Thủ tướng chính phủ bổ nhiệm giữ chức Trưởng Ban quản lý các Khu công nghiệp tỉnh, trước khi nghỉ hưu có 8 năm làm Phó Ban Quản lý Làng Văn hóa Du lịch các dân tộc Việt nam, một mô hình Khu kinh tế văn hóa du lịch đặc thù, thuộc Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, tôi tự cho mình là người trong cuộc. Tôi đọc hết, nghe hết các ý kiến mà không dám bày tỏ chính kiến của cá nhân. Bởi vì, tôi không muốn bị bổ sung vào “danh sách đen”, những anh hùng bàn phím, đang hoạt động chống phá Đảng và nhà nước. Tôi cũng không muốn bị chửi là hèn, biết nhưng sợ mà không dám nói. Tôi biết, những điều trăn trở và suy nghĩ lâu nay, nói ra chắc chắn sẽ chẳng thỏa mãn được ai, thuộc “phe” nào, nhất là khi họ đang trong cơn say. Hậu họa trên chắc chắn sẽ xẩy ra nên phương án lựa chọn của tôi lúc này là im lặng.

Tác giả Phú Đức Phương với những trăn trở về Luật Đặc khu kinh tế

Cho đến khi trên mạng xã hội lan truyền ý kiến của Bà Chủ tịch và ông Phó Chủ tịch Quốc hội cho rằng: Chúng ta vừa làm vừa rút kinh nghiệm, nghĩa là Dự luật sẽ nhanh chóng được thông qua thì tôi không còn im lặng được nữa. Tôi quyết định nói ra những suy nghĩ, trăn trở lâu nay về các mô hình của nền kinh tế thị trường mà tôi được tham gia, chứng kiến và trải nghiệm. Nói nôm na, nếu coi các mô hình kinh tế này là “con đẻ” của nền kinh tế thị trường thì tôi tạm xếp, anh cả là Khu công nghiệp, khu chế xuất, anh hai là Khu Kinh tế, anh Ba là tập đoàn kinh tế nhà nước, anh Tư là các DN Tư nhân và chú út, đến thời điểm này, là các đặc khu kinh tế Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc.

Trước hết về nhận thức, tôi đồng tình và ủng hộ chủ trương này. Tôi quan niệm đấy là những “bước đi ban đầu” rất cần thiết để chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp của chế độ XHCN sang nền kinh tế thị trường TBCN.

Là người lính trực tiếp tham gia cuộc kháng chiến chống quân TQ xâm lược, tôi căm thù Đặng Tiểu Bình, nhất là khi ông ta trở mặt, biến bạn thành thù, xua quân xâm lược Việt Nam. Là Đảng viên cộng sản, tôi đã từng khinh miệt Đặng khi thấy ông qua lại, tâng bốc, ve vãn các Tổng thống Mỹ, các nước phương tây. Trong các lớp học chính trị, tôi và các đồng chí của mình đã trao đổi rất nhiều về một câu nói, được cho là của Đặng Tiểu Bình: “Không có kẻ thù truyền kiếp, không có đồng minh vĩnh viễn, chỉ có quyền lợi dân tộc là trên hết”. Một câu hỏi lớn được đặt ra lúc ấy, trong các cuộc thảo luận: Đảng ta coi Đảng cộng sản Trung Quốc là Đối tác hay Đối tượng?.

 Thế nhưng, chứng kiến những gì mà Đặng Tiểu Bình và những “hậu duệ” của ông làm được với nước Trung Hoa, đưa nền kinh tế TQ phát triển lên hàng thứ hai thế giới, nhận thức của tôi về giới lãnh đạo Đảng Cộng sản TQ, có phần thay đổi. Tôi thấy càng ngày họ càng giống Donal Trump hơn về cả tư tưởng và hành động. Tôi thấy càng ngày họ càng đặt quyền lợi của dân tộc lên trên hết. Chưa bao giờ “giấc mộng Trung Hoa” lại được hô hào, triển khai quyết liệt như bây giờ. Vì giấc mơ bá chủ thế giới, họ sẵn sàng đánh nước này, đàm nước khác, thậm chí hy sinh tình đồng chí, tình hữu nghị Việt Trung gần trăm năm nay.

Thái độ đó, cộng với những bài học lịch sử mất nước trước đây luôn nhắc dân tộc ta phải hết sức cảnh giác, đề phòng Trung Quốc. Cha ông ta đã truyền lại cho chúng ta nhiều bài học kinh nghiệm để giữ hòa khí giữa hai nước. Tôi không phải là nhà sử học hay chính trị gia nên không dám nói nhiều về vấn đề này. Tôi chỉ rất kính phục Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng, gần đây đã lấy hình tượng cây tre trong bão giông để mô tả hoàn cảnh đất nước Việt Nam. Tôi ủng hộ quan điểm coi Trung Quốc vừa là đối tác, vừa là đối tượng của Việt Nam, dân tộc Việt Nam phải biết cách “sống chung với lũ”.

Sống chung với lũ, nghĩa là chúng ta vừa phải chịu đựng sự mất mát, thiệt hại do Lũ gây ra, vừa phải tận dụng những lợi thế do lũ lụt mang lại. Một trong những cơ hội mà quan hệ Trung Quốc mang lại là ta học được ở họ những kinh nghiệm về xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường. Câu nói, mà dư luận râm ran lâu nay, hơn 20 năm trước, tôi được nghe phổ biến là của Đặng Tiểu Bình, khi  ông ta hô hào nhân dân Trung Quốc xây dựng các Khu công nghiêp: “Xây dựng các Khu công nghiệp, Khu chế xuất là chúng ta lót ổ cho các con gà TBCN đến đẻ những quả trứng vàng”. Theo dõi thời sự quốc tế, chúng ta thấy, thời ấy Đặng Tiểu Bình qua lại với Mỹ và các nước phương tây rất thân thiết. Việc xây dựng các Khu công nghiệp, khu chế xuất ở Trung Quốc cũng là những bản sao từ những nền kinh tế phát triển ngoài phe XHCN. Trước năm 1975, Miền nam đã có Khu công nghiệp Biên Hòa, Hàn Quốc, Thái Lan, Singapore đã có Khu công nghiệp, khu chế xuất được lấp đầy, hoạt động có hiệu quả.

Chính phủ Việt Nam, dưới thời Thủ Tướng Võ Văn Kiệt, Phong trào đầu tư xây dựng, phát triển các Khu Công nghiệp, khu chế xuất phát triển rầm rộ, đều khắp. Thời đó không có Luật đầu tư nhưng Nghị định 36/CP trao quyền cho Ban Quản Lý các KCN, KCX Trung ương, Ban quản lý các KCN, KCX cấp tỉnh rất hoành tráng. Ban quản lý các Khu công nghiệp Trung ương, do ông Lê Xuân Trinh, nguyên Bộ Trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính Phủ làm Trưởng Ban, được coi là “siêu Bộ“ ở Trung ương. Tương tự Ban quản lý các KCN các tỉnh được coi là “siêu Sở”, Trưởng Ban do Thủ Tướng bổ nhiệm, thường là do một Phó Chủ tịch UBND Tỉnh kiêm nhiệm. Thời ấy hàng trăm các KCN, KCX đua nhau mọc lên, trải dài từ Quảng Ninh đến Cà Mau, từ Cao bằng, Bắc cạn đến tận Đắc Lắc, Tây Nguyên.

Việc phát triển ồ ạt các Khu công nghiệp chắc chắn có tác dụng thu hút đầu tư, tăng trưởng kinh tế nhưng cũng để lại cho nền kinh tế và xã hội không ít “tác dụng phụ”.

 Vậy là Đảng ta lại phải Rút kinh nghiêm.

Dưới thời Chính Phủ do ông Phan Văn Khải làm Thủ tướng, Ban QL các Khu công nghiệp Trung ương bị giải thể, chuyển thành 2 Vụ cùng tên là Vụ Quản Lý các KCN, KCX, thành “con nuôi” của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Văn phòng Chính Phủ. Ban quản lý các KCN, KCX cấp Tỉnh chuyển đổi thành một mô hình không giống ai: Trưởng Ban vẫn do Thủ Tướng bổ nhiệm, phần chuyên môn trực thuộc Bộ Kế hoạch và đầu tư, về tổ chức bộ máy trực thuộc UBND Tỉnh.

Lần “rút kinh nghiệm” này xem ra không hiệu quả. Đảng, Chính phủ chưa có thêm được chút kinh nghiệm nào để phục vụ một chương trình kinh tế tiếp theo là Đầu tư xây dựng các Khu Kinh tế. Lý do để ra đời các Khu Kinh tế được phổ biến lúc bấy giờ là: các “ổ” KCN, KCX không hấp dẫn với những con gà Tư bản tinh khôn. Cần phải tạo ra những ổ mới, đủ hấp dẫn mới “dụ” được các con gà Tư bản vào đẻ trứng vàng.

Sau khi Thủ Tướng Phan Văn Khải nghỉ hưu, các Khu Kinh tế đắp chiếu. Cả nước lại hân hoan chờ sự bùng phát về kinh tế từ những “quả đấm thép” của các tập đoàn kinh tế nhà nước, do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trực tiếp chỉ đạo.

Chương trình thất bại, Thủ tướng về hưu, rời khỏi chính trường, để lại cho đất nước một loạt “đại án” tham nhũng, lãng phí, thất thoát. Đảng, Quốc hội, Chính Phủ lại phải rút kinh nghiệm. Rút kinh nghiệm để trở lại mô hính phát triển kinh tế ban đầu: Xây dựng các đặc khu kinh tế Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc.

Tôi chưa nghiên cứu nhiều Luật về Đặc khu kinh tế nhưng tôi đã nghiên cứu kỹ và tổ chức thực hiện Nghị định 36/CP về KCN, KCX, Luật Đầu tư  năm 2005, Nghị định 108/2005/CP hướng dẫn thi hành Luật đầu tư và tôi dám chắc Luật về các Đặc khu lần này không khác các luật và Nghị định trước là bao.

Tôi không được mời dự các hội nghị tổng kết, các Hội thảo trong và ngoài nước về những cái được và chưa được của Khu công nghiệp, KCX và cả Khu Kinh tế nhưng tôi tin là ở đó Đảng và Chính phủ chỉ nghe được những mặt được là chủ yếu. Nếu được mời dự, tôi cũng chỉ nói về những thành công, chúc mừng, nhận quà rồi hân hoan dự tiệc. Không dại gì mà nói ra những điều không vừa lòng người khác.

Tôi không được phổ biến, giải thích lý do về việc Thủ Tướng Phan Văn Khải giải thể Ban quản lý các KCN, KCX Trung ương, chuyển đổi mô hình Ban quản lý cấp tỉnh. Sau này về làm Trưởng Ban của Nghệ An, tôi cố để tìm hiểu kỹ. Căn cứ vào các thông tin lúc bấy giờ tôi đánh giá: Phong trào đầu tư xây dựng các Khu công nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam có thu được một số thành tích, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế đất nước nhưng nhìn chung là không hiệu quả. Tôi không dám đánh giá là thất bại, nhưng tôi nghĩ là thất bại. Nguyên nhân thất bại, theo quan điểm cá nhân của tôi thuộc về mấy vấn đề sau:

Trước hết, tôi cho rằng: Chủ trương đầu tư xây dựng các Khu công nghiệp, khu chế xuất là đúng nhưng triển khai tổ chức thực hiện vội vàng, hấp tấp mang tính phong trào, duy ý chí. Mặc dù trước đó Chính phủ đã tổ chức thí điểm ở Đà Nẵng, Đồng Nai, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc… nhưng sau khi đi tham quan, học tập kinh nghiệm về thấy hay quá, dễ quá, các địa phương đua nhau trình Chính phủ cho lập các Ban quản lý KCN, KCX để lập quy hoạch và triển khai thực hiện, kể cả những địa phương không có đủ điều kiện cần và đủ. Thậm chí có địa phương xin thành lập Ban QL các khu công nghiệp, khu chế xuất là để “bằng chị bằng em” với các tỉnh khác. Họ lập luận: người ta làm được thì tỉnh chúng tôi cúng quyết tâm làm được. Từ đó các tỉnh đồng loạt ra đời các Ban QL các KCN, KCX, hàng trăm bản Quy hoạch chi tiết các KCN, KCX các Tỉnh được phê duyệt vội vàng, hàng trăm ngàn ha đất của nông dân bị thu hồi với giá rẻ mạt và bị “treo” đến tận bây giờ.

Nguyên nhân thứ hai, tôi cho rằng với cách bầu cử, bổ nhiệm như hiện nay, Đảng ta đã không lựa chọn và bổ nhiệm được người đứng đầu các tỉnh, các Bộ có Khu CN, Khu CX, Khu Kinh tế và Trưởng Ban QL các KCN, KCX và Khu Kinh tế xứng tầm. Theo tôi, những người đứng đầu này phải vừa có tâm, vừa có tầm để thực hiện một lúc hai nhiệm vụ đôi khi mâu thuẫn với nhau. Họ vừa phải đảm nhận nhiệm vụ chính trị, chèo lái con thuyền đi theo đường lối của Đảng, vừa phải biết cách phát triển kinh tế theo nền kinh tế thị trường của chủ nghĩa tư bản. Giải quyết mâu thẩn này không hề đơn giản khi đất nước đang duy trì quan điểm Đảng lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối. Tôi đã từng là nạn nhân của nguyên nhân này.

Lần ấy, vừa nhận được Quyết định bổ nhiệm Trưởng Ban Nghệ An của Thủ Tướng Chính phủ không lâu, tôi nhận được điện thoại của đồng chí Bí thư Tỉnh ủy: Bằng mọi cách, ông phải rút giấy phép đầu tư của máy bia Vinaken. Trung ương chỉ thị, đây là một dự án không khả thi. Đây là mệnh lệnh của Đảng, đồng chí phải chấp hành ngay.

Chết, tôi biết làm sao bây giờ. Dự án được cấp phép, khởi công rầm rộ từ ngày tôi còn đang làm việc tại Công ty liên doanh. Mọi việc thẩm định dự án, thẩm định năng lực đầu tư được các “tiền bối” và Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện đầy đủ trước khi tôi về. Cho đến khi nhận được “lệnh” của Bí Thư, nhà đầu tư chưa vi phạm điều gì theo Luật đầu tư. Đơn phương rút giấy phép, nhà đầu tư khởi kiện tôi chết, không chấp hành lệnh của Bí thư tôi cũng chết. Đằng nào cũng chết.

Tình thế bắt buộc, tôi phải làm báo cáo gửi Tỉnh ủy, UBND tỉnh Nghệ An và copy cho Thủ tướng Chính phủ để báo cáo. Mừng rơi nước mắt khi hai tuần sau, UBND tỉnh và Ban Quản lý các KCN tỉnh Nghệ An nhận được công văn trả lời của Thủ Tướng Chính phủ trong đó có câu: “Về việc rút giấy phép của nhà máy bia Vinaken, Thủ tướng Chính Phủ giao cho chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An và Trưởng Ban quản lý các Khu công nghiệp tỉnh quyết định, nhưng phải tuân theo các quy định của luật pháp hiện hành. Thoát nạn. Tôi chưa kịp mừng thì lại phải hoảng hốt, bồn chồn lo lắng khi nhận được cú điện thoại trong đêm từ chú em đồng hương đang công tác tại Văn phòng Chính Phủ: Anh thu xếp, chạy khẩn trương ra Hà nội. Đọc các báo cáo từ Nghệ An gửi ra, em thấy cửa thoát hiểm của anh rất hẹp.

Sau đận ấy, tôi bị tai biến, mồm miệng méo xệch đến tận ngày nay. Bù lại tôi được Bộ Trưởng Lê Doãn Hợp “chạy” cho ra Hà nội, ung dung “tỵ nạn” đọc báo đến ngày về hưu.

Nguyên nhân thứ ba, được tôi cho là nguyên nhân chính: Bộ máy hành chính, Quản lý nhà nước của ta quá cồng kềnh, kém hiệu quả. Bộ máy ấy không những không đủ khả năng để chẩn đoán, phát hiện, hạn chế và đẩy lùi các “tác dụng phụ” nguy hiểm của nền kinh tế thị trường mà còn tiếp tay cho các loài sâu bọ, rắn rết vào nằm “phục” sẵn trong các “ổ gà” mà ta dày công lót cho các con gà đến đẻ trứng vàng.

Tôi không dám xúc phạm ai, càng không dám “vơ đũa cả nắm”. Lúc đi học cao cấp chính trị, tôi đã từng được “đả thông tư tưởng” rằng chúng ta mở cửa đón những luồng sinh khí mới, thì cũng phải chấp nhận cho những luồng khí độc vào theo. Nói một cách hình tượng, ta lót ổ cho những con gà Tư bản vào đẻ trứng vàng thì đồng thời sẽ có những loài sâu bọ rắn rết vào theo. Nhiệm vụ của chúng ta là phải tìm, phát hiện để diệt hết những côn trùng nguy hại, để gà yên tâm “lâm bồn” mà không phải tá hỏa bỏ chạy. Thế nhưng thực tế thì sao.

Tôi kể ra đây vài câu chuyên có thật, tôi chứng kiến và không có thêm một bình luận nào.

Chuyện thứ nhất kể về một nhà đầu tư nước ngoài, Việt kiều ở Úc. Biết Tỉnh nóng lòng, biết Bộ Kế hoạch và đầu tư sốt sắng nhiệt tình, ông này lập và trình Bộ cấp phép cho Dự án khu du lịch nghỉ dưỡng cao cấp tại Thị xã Cửa lò với vốn đầu tư hơn 50 triệu USD, thuộc quyền cấp giấy phép đầu tư của Bộ. Lễ khởi công rầm rộ lắm. Ngay sau lễ khởi công, các nhà thầu kéo đến xin được ký hợp đồng thi công rất đông vì giá quá hời, chỉ có điều là phải chấp nhận chậm thanh toán. Nhà thầu tự bỏ vốn thi công, xong phần thô mới được tạm ứng 70% khối lượng. Cân đối với khoản lợi nhuận, các nhà thầu đồng loạt vay vốn ngân hàng để khẩn trương thi công, thu hồi vốn. Hàng loạt phần thô khu biệt thự nghỉ dưỡng mọc lên. Nhà thầu vẫn chưa được thanh toán vì số người đăng ký mua nhà chưa nhiều. Các nhà thầu đình công, kéo nhau lên UBND tỉnh Nghệ an đòi khởi kiện.

Cùng thời điểm ấy, lãnh đạo Tỉnh Nghệ An nghe được một ý kiến của một ông Tây “xịn”, đang làm việc tại công ty liên doanh Nat & L. Trong một lần đi tắm biển Cửa lò, ông dừng lại rất lâu trước biển quảng cáo về dự án, chụp ảnh, nói chuyện rất lâu với một người bạn bên Úc, rồi quay lại: “Lạ thật, Công ty này không đăng ký hoạt động ở Úc”. Trước sự tò mò ngơ ngác của các nhân viên, ông giải thích: Bên Úc Những công ty có vốn đầu tư trên 1 triệu USD đều phải đăng ký kinh doanh và công bố công khai hoạt đông trên trang Webte chính phủ. Chẳng lẽ trước khi cấp giấy phép đầu tư, Chính phủ Việt Nam không xác minh được thông tin về nhà đầu tư này?.

Tỉnh Nghệ an vào cuộc, tá hỏa khi biết điều ông Tây nói là thật. Chủ đầu tư, ông Việt Kiều này đang dùng chiêu “tay không bắt giặc” do các “chiến hữu” ở Hà nội tư vấn, chỉ bảo. Sau nhiều cuộc họp, Tỉnh Nghệ An đề nghị Bộ rút giấy phép đầu tư và Bộ cũng dễ dàng chấp nhân. Một điều khó hiểu là Bộ rút giấy phép đầu tư nhưng lại “giao cho UBND tỉnh Nghệ An giải quyết hậu quả theo đúng luật pháp hiện hành”. Nghe nói đến nay hậu quả của việc cấp phép ẩu này của Bộ KH ĐT vẫn chưa kết thúc.

Chuyện thứ hai, ngày tôi đương chức còn ít, bây giờ đang rất “hot” trong giới đại gia. Đó là việc một số doanh nhân người Việt, mới nhanh chóng giàu đột xuất, nhanh chóng nổi lên sau mở cửa. Báo chí lúc thì gọi họ là nhà Tư bản thân hữu, khi thì coi đấy là bọn đại diện “lợi ích nhóm”. Họ đến các Khu công Nghiêp, khu Kinh tế đầu tư mà như đi chơi. Đến bất kỳ đâu họ đều được chào đón niềm nở và tạo điều kiện hết sức. Bởi vì, trước đó các nhà lãnh đạo địa phương, các KCN, Khu kinh tế đa được báo cáo rất đầy đủ về “thân thế, sự nghiệp” của người sắp đến. Phổ biến nhất, đấy là anh em kết nghĩa với anh Ba, em vợ anh tư, thân thiết như anh em với anh Năm và…chơi rất đẹp. Trong buổi làm việc, thay cho báo cáo về dự án, báo cáo về năng lực chủ đầu tư, khách chỉ ba hoa, “nổ”, trưng ra các ảnh, các clip về các cuộc giao lưu, các kỷ niệm khó quên với các lãnh đạo cao cấp trung ương. Cấp dưới yếu bóng vía, đang cần tìm sự che chở của bề trên, nghe thế phục lác mắt va sợ vãi cả linh hồn.

Với những “thế” và “lực” như thế, nhà đầu tư loại này được cấp chứng nhận đầu tư cho Dự án “khủng”, có vốn “hơi” vài chục nghìn tỷ đồng trên diện tích một vài trăm heta là chuyện hết sức bình thường, dễ như trở bàn tay. Lễ khởi công hoành tráng, có anh Ba, anh Tư, anh Năm, anh X, Y, Z về dự là đương nhiên. Chỉ có điều khởi công xong, đắp chiếu nằm đó để…chờ.

Họ chờ ai, xin thưa họ chờ nhà đầu tư thật đến. Lúc đó, để tạo điều kiện cho Tỉnh thu hút đầu tư, họ làm thủ tục trả lại một phần diện tích đã thuê, để nhà nước cho nhà đầu tư thuê lại. Nhà đầu tư mới vừa phải trả tiền thuê đất của nhà nước, vừa phải “hỗ trợ” ngầm nhà đầu tư cũ một khoản không hề nhỏ. Tôi được trực tiếp nghe một nhà đầu tư công nghệ thực phẩm Thái lan phàn nàn: Để thuê được 3 Ha đất trong KCN, ông này phải chấp nhận “hỗ trợ” cho nhà đầu tư trước đó 3 triệu USD. Điều đó giải thích vì sao các nhà đầu tư Âu, Mỹ vốn không thích, không quen đi đêm rất khó đầu tư được vào các Khu công nghiệp, khu Kinh tế, khu công nghệ cao của Viêt Nam, mặc dù Chính phủ rất mong muốn mời họ vào.

Nguyên nhân thứ tư, theo tôi là cơ sở pháp lý giải quyết tranh chấp trong các Khu công nghiêp, Khu chế xuất và Khu Kinh tế của Việt Nam có nhiều điều bất cập, có nhiều điều vênh và khác nhau với Luật pháp quốc tế. Đã từng làm việc lâu năm trong một doanh nghệp FDI đến từ Vương Quốc Anh, tôi biết các nhà đầu tư nước ngoài, khi xẩy ra tranh chấp, rất muốn được vận dụng luật pháp nước họ hay ít ra là luật pháp quốc tế. Họ không hiểu và không thích tranh tụng với Tòa án Việt Nam. Họ cho rằng luật VN được xây dựng theo ý chí của người lãnh đạo, thiếu công bằng, chồng chéo và rất hay “bổ sung sửa đổi”. Lý do này đã cản trở không ít các nhà đầu tư có năng lực nhưng thiếu lòng tin vào các cơ quan tư pháp của Việt Nam.

Nguyên nhân thứ 5 là chúng ta lúng túng trong việc lựa chọn các công ty đầu tư hạ tầng các Khu công nghiệp. Về nguyên tắc, chúng ta phải lựa chọn được những Doanh nghiệp mạnh, có năng lực tài chính để giao hoặc cho thuê giá rẻ toàn bộ diện tích đất trong Khu công nghiệp. Doanh nghiệp này bỏ vốn đầu tư hạ tầng, giao thông, hệ thống điện, nước, kể cả các Khu xử lý nước thải tập trung để cho các nhà đầu tư thuê lại với giá cao. Tuy nhiên, thời kỳ đầu các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân VN đều yếu, nguồn vốn đầu tư cho hạ tầng KCN yếu ớt nhỏ giọt nhưng lại muốn thu hồi nhanh nên dù hạ tầng chưa đầy đủ vẫn mời gọi đầu tư để “lấp kín” các KCN. Điều này dẫn đến tình trạng các khu công nghiệp mặc dù được đánh giá tác động môi trường đầy đủ nhưng vẫn thường xuyên bị xử phạt vì ô nhiễm môi trường. Hiệu quả sản xuất kinh doanh của DN trong các KCN ngày càng giảm.

Một nguyên nhân, không thể không nhắc đến là cuộc sống của công nhân trong Khu công nghiệp và cuộc sống bị mất đất của những nông dân ngoài khu công nghiệp ngày càng khó khăn, bần cùng hóa. Thủ Tướng Võ văn Kiệt nhiều lần nhắc: Dự án, các Khu công nghiệp mọc lên ở đâu thì đời sống của người dân phải được cải thiện tốt hơn lên ở đấy. Thực tế cho thấy là ngược lại. Trong nhà máy, để bù lại những chi phí sản xuất “không hạch toán được”, để tận dụng lợi thế lớn nhất của Việt Nam là lao động rẻ mạt, các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp châu Á, ra sức bóc lột sức lao động công nhân đến tàn tệ. Ngoài Khu công nghiệp, người nông dân vì “hy sinh cho sự nghiệp phát triển công nghiệp hóa hiện đại hóa” của Đảng và nhà nước, nhận một lượng tiền đền bù giải phóng mặt bằng đôi khi, chỉ đủ “chạy” cho con vào làm công nhân trong KCN còn bố mẹ thì bỏ quê ra Hà Nội làm oshin hoặc chạy xe ôm kiếm sống. Quy hoạch các khu phụ trợ, phục vụ cho các Khu công nghiệp được vẽ ra, trình phê duyệt rất đẹp nhưng không nơi nào thực hiện.

Đưa ra những phân tích, kể lể dài dòng như trên là tôi muốn gửi đến ông Nguyễn Phú Trọng, các đại biểu Quốc hội một ý kiến cá nhân về Luật Đặc Khu. Đó là đề nghị Quốc hội, chậm lại một kỳ hop, chưa vội thông qua Luật về các Đăck khu, để:

  1. Rà soát lại sự cần thiết phải ban hành Luật về tổ chức hành chính các đặc khu. Rà soát xem trên thế giới, những nước có đặc khu kinh tế họ ban hành Luật hay thể thức văn bản quy phạm pháp luật nào khác.
  2. Nếu các nước đi trước họ có Luật thì ta cần xem luật của họ và luật của ta, luật quốc tế có gì giống nhau có gì khác nhau. Đảm bảo khi có tranh chấp, Việt Nam không bị đuối lý trước các luật tương tự của những quốc gia tiên tiến khác. Đặc biệt quan tâm đến điều khoản quản lý, cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài và thời hạn cho thuê đất.
  3. Giới thiệu đầy đủ nội dung Luật (dự thảo) của Việt Nam và một số luật của các nước, kể cả Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản để nhân dân, đặc biệt là các nhà luật gia, các nhà kinh tế, chính trị hàng đầu của VN đóng góp ý kiến. Khi nhân dân hiểu, thống nhất ý kiến đồng tình, ủng hộ thì luật mới đi vào cuộc sống được
  4. Trong Khi Đảng triển khai Nghị Quyết TW 6 về tổ chức bộ máy, đề nghị triển khai thi tuyển, tìm người đứng đầu các tỉnh có đặc khu, người đứng đầu đặc khu theo hướng nhất thể hóa. Bí thư kiêm Chủ tịch.
  5. Trong khi Đảng, Chính phủ đang quyết liệt đấu tranh chống tham những, kết hợp với các cơ quan bảo bệ pháp luật đập tan những âm mưu, thủ đoạn của nhóm lợi ích đang rập rình quanh các đặc khu. Diệt và đuổi hết các loài sâu bọ, rắn rết ra khỏi đặc khu, lấy lại lòng tin cho nhân dân.
  6. Lựa chọn những nhà đầu tư chiến lược, đủ năng lực, trí tuệ làm đầu tàu  nòng cốt về đầu tư hạ tầng trong Đặc khu theo các bản Quy hoạch được lập và phê duyệt bài bản. Nên đấu thầu sử dụng các công ty Tư vấn độc lập nước ngoài cho khách quan.
  7. Có chế tài đủ mạnh, đủ nghiêm để xử lý các vi phạm, kể cả với nhà đầu tư và chính quyền đặc khu. Kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong đặc khu. P.D.P
 

 

Gửi bình luận của bạn
x